TUỆ QUANG 慧光 FOUNDATION http://www.daitangvietnam.com
Nguyên Tánh Trần Tiễn Khanh & Nguyên Hiển Trần Tiễn Huyến Phiên Âm và Lược Dịch
Trung Tâm Liễu Quán hiệu đính
============================================================

【經文資訊】大正新脩 大藏經 第十二冊 No. 374《 大般涅槃 經》
【Kinh văn tư tấn 】Đại Chánh Tân Tu Đại Tạng Kinh đệ thập nhị sách No. 374《Đại bát Niết bàn Kinh 》
【Kinh văn tư tấn 】Đại Chánh Tân Tu Đại Tạng Kinh thứ mười hai sách No. 374《Đại bát Niết bàn Kinh 》

【版本記錄】CBETA 電子佛典 V1.29 (UTF-8) 普及版,完成日期:2004/11/20
【bản bổn kí lục 】CBETA điện tử Phật Điển V1.29 (UTF-8) phổ cập bản ,hoàn thành nhật kỳ :2004/11/20
【bản gốc kí lục 】CBETA điện tử Phật Điển V1.29 (UTF-8) khắp cùng bản ,hoàn thành ngày :2004/11/20

【編輯說明】本資料庫由中華電子佛典協會(CBETA)依大正新脩 大藏經 所編輯
【biên tập thuyết minh 】bổn tư liệu khố do Trung Hoa điện tử Phật Điển hiệp hội (CBETA)y Đại Chánh Tân Tu Đại Tạng Kinh sở biên tập
【biên tập thuyết minh 】gốc tư liệu kho bởi Trung Hoa điện tử Phật Điển hiệp hội (CBETA)nương Đại Chánh Tân Tu Đại Tạng Kinh biên tập

【原始資料】蕭鎮國 大德 提供,維習安大德提供之 高麗藏 CD 經文,北美某大德提供
【nguyên thủy tư liệu 】Tiêu-Trấn-Quốc Đại Đức đề cung ,Duy-Tập-An Đại Đức đề cung chi cao lệ tạng CD Kinh văn ,Bắc-Mỹ-Mỗ Đại Đức đề cung
【nguyên thủy tư liệu 】Tiêu-Trấn-Quốc Đại-Đức đề cung ,Duy-Tập-An Đại-Đức đề cung chi cao lệ tạng CD Kinh văn ,Bắc-Mỹ-Mỗ Đại-Đức đề cung

大般 涅槃經
Đại bát Niết bàn Kinh tự
LỜI TỰA KINH ĐẠI BÁT NIẾT BÀN

後秦釋道朗撰
Hậu Tần Thích Đạo Lãng soạn
Thích Đạo Lãng biên soạn vào đời Hậu Tần.

大般 涅槃經 者。蓋是 法身 之玄堂。
Đại Bát-niết-bàn Kinh giả。cái thị Pháp thân chi huyền đường。
Kinh Đại Bát-niết-bàn là bao trùm cái huyền diệu của Pháp thân , rực rỡ

正覺之實稱。眾經之淵鏡。萬流之宗極。其為體也。
chánh giác chi thật xưng。chúng Kinh chi uyên kính。vạn lưu chi tông cực。kỳ vi thể dã。
của bậc Chánh Giác, là gương soi của các Kinh, là dòng phái cao nhất của vạn dòng, vì là cái Thể của Kinh vậy.

妙存有物之表。周流無窮之內。任運而動。
diệu tồn hữu vật chi biểu。châu lưu vô cùng chi nội。nhâm vận nhi động。
Thể ấy biểu thị có một vật vi diệu tồn tại bên trong và lưu thông khắp đến vô cùng, tùy thời vận mà biến động,

見機而赴。任運而動。則乘虛照以御物。
kiến ky nhi phó。nhâm vận nhi động。tắc thừa hư chiếu dĩ ngự vật。
để thấy căn cơ mà ứng phó; tùy thời vận mà biến động thời cỡi hư không chiếu vào rồi dùng vật để ngăn cản,

寄言蹄以通化。見機而赴。則應萬形而為像。
kí ngôn đề dĩ thông hóa。kiến ky nhi phó。tắc ứng vạn hình nhi vi tượng。
dùng chữ mà thông đạt, thấy căn cơ mà ứng phó, thời ứng ra vạn hình làm dẫn dụ,

即群情而設教。至乃形充 十方 。而心不易慮。
tức quần tình nhi thiết giáo。chí nãi hình sung thập phương 。nhi tâm bất dịch lự。
liền vì quần sanh mà sắp bày giảng dạy, cho đến ứng hình đầy khắp cả mười phương mà tâm không thay đổi,

教彌天下。而情不在已。廁流塵蟻而弗下。
giáo di Thiên hạ。nhi tình bất tại dĩ。xí lưu trần nghĩ nhi phất hạ。
chỉ dạy khắp thiên hạ mà chẳng vướng tình, đặt mình vào dòng nước, vào đất bụi nhỏ mọn mà vẫn không thấp hèn,

彌蓋群聖而不高。功濟萬化而不恃。
di cái quần Thánh nhi bất cao。công tế vạn hóa nhi bất thị。
che khắp cả quần Thánh mà không cao, vạn công việc cứu giúp, giáo hóa chẳng cậy nhờ.

明踰萬日而不居。渾然與太虛同量。泯然與 法性 為一。
minh du vạn nhật nhi bất cư。hồn nhiên dữ thái hư đồng lượng。mẫn nhiên dữ Pháp tánh vi nhất。
Ánh sáng đi qua vạn ngày mà không ở, hồn nhiên với hư không bao la cùng lượng, hết như vậy cùng pháp tính làm một.

法性 以至極為體。至極則歸於無變。
phu Pháp tánh dĩ chí cực vi thể。chí cực tắc quy ư vô biến。
Luận rằng Pháp tính ấy là dùng đến chỗ cùng cực làm thể, đến cùng cực thời về ở chỗ không thay đổi.

所以生滅不能遷其常。生滅不能遷其常。
sở dĩ sanh diệt bất năng Thiên kỳ thường。sanh diệt bất năng Thiên kỳ thường。
Vì vậy pháp sanh diệt không thể dời đổi được cái Thường của thể ấy. Pháp sanh diệt không thể dời đổi được cái Thường của thể tính,

故其常 不動 。非樂不能虧其樂。故其樂無窮。
cố kỳ thường bất động 。phi lạc bất năng khuy kỳ lạc。cố kỳ lạc vô cùng。
vì cái Thường ấy không động. Thể ấy không Lạc, cũng không thể thiếu Lạc, vì vậy Lạc ấy là vô cùng.

或我生於謬想。非我起於因假。因假存於名數。
hoặc ngã sanh ư mậu tưởng。phi ngã khởi ư nhân giả。nhân giả tồn ư danh số。
Hoặc Ngã sanh ra là do tư tưởng xằng bậy, chẳng phải do Ngã khởi lên mà do ở các duyên giả hợp, do các duyên giả hợp nên tồn tại danh số.

故至我越名數而非無。越名數而非無。
cố chí ngã việt danh sổ nhi phi vô。việt danh sổ nhi phi vô。
Vì từ Ngã mà qua danh số nên chẳng phải Không, qua danh số mà chẳng phải Không,

故能居自在之聖位。而非我不能變。
cố năng cư tự-tại chi Thánh vị。nhi phi ngã bất năng biến。
vì vậy có thể tự tại ở ngôi Thánh, mà chẳng phải Ngã nên không thể thay đổi.

非淨生於虛淨。故真淨水鏡於萬法。水鏡於萬法。
phi tịnh sanh ư hư tịnh。cố chân tịnh thủy kính ư vạn Pháp。thủy kính ư vạn Pháp。
Chẳng phải do tịnh sanh mà do ở hư không thanh tịnh sanh, vì vậy thể tính là nước chân thanh tịnh soi vạn pháp, vạn pháp ở trong gương nước,

故非淨不能渝。
cố phi tịnh bất năng du。
vì chẳng phải tịnh nên chẳng biến đổi.

是以斯經觕章敘常樂我淨為宗義之林。開究玄致為 涅槃 之原用。
thị dĩ tư Kinh thô chương tự thường lạc ngã tịnh vi tông nghĩa chi lâm。khai cứu huyền trí vi Niết-bàn chi nguyên dụng。
Đó là dùng văn thô thiển để trình bày Thường, Lạc, Ngã, Tịnh làm rừng tông nghĩa, khai mở sự cùng cực vi diệu đến nguyên dụng của Niết-bàn ,

能闡祕藏於未聞。啟靈管以通照。拯四重之癰疽。
năng xiển bí tạng ư vị văn。khải linh quản dĩ thông chiếu。chửng tứ trọng chi ung thư。
có thể suy diễn tỏ rõ bí tạng chưa được nghe, giải thoát cho những sinh linh đang bị giam cầm chiếu soi thông suốt, cứu vớt bốn ung nhọt nặng,

拔無間之疣贅。闡祕藏則暢群識之情。
bạt vô gián chi vưu chuế。xiển bí tạng tắc sướng quần thức chi tình。
nhổ bướu vô gián, suy diễn tỏ rõ Bí Mật Tạng thời sướng lên cho chúng hữu tình tỉnh thức,

審妙我之在已。啟靈管則悟玄[火/几]之潛。
thẩm diệu ngã chi tại dĩ。khải linh quản tắc ngộ huyền [hỏa /kỷ ]chi tiềm。
xét kỹ chỗ vi diệu của cái ngã xong rồi giải thoát cho sinh linh bị giam cầm thời ngộ được chỗ tiềm ẩn huyền diệu,

映神珠之在體。然四重無間誹謗方等。斯乃眾患之[病-丙+干]痟。
ánh Thần châu chi tại thể。nhiên tứ trọng vô gián phỉ báng phương đẳng。tư nãi chúng hoạn chi [bệnh -bính +can ]痟。
ngọc châu thần khí ở thể tính giọi lại, như vậy các loại như: bốn ung nặng, vô gián, phỉ báng v.v, đó là cái bệnh của tất cả vậy.

創疣之甚者。故 大涅槃 以無創疣為義名。
sang vưu chi thậm giả。cố Đại Niết-Bàn dĩ vô sang vưu vi nghĩa danh。
Người bị bướu rất đau đớn vì vậy Đại Niết-bàn là do danh nghĩa không bị đau bướu.

斯經以 大涅槃 為宗目。
tư Kinh dĩ Đại Niết-Bàn vi tông mục。
Lấy chữ Đại Niết-bàn trong kinh ra làm tông chỉ và mục tiêu.

宗目舉則明統攝於眾妙。言約而義備。義名立則照 三乘 之優劣。
tông mục cử tắc minh thống nhiếp ư chúng diệu。ngôn ước nhi nghĩa bị。nghĩa danh lập tắc chiếu tam thừa chi ưu liệt。
Tông chỉ và mục tiêu đã dựng lên thời ánh sáng thống nhiếp các pháp vi diệu, lời thì ngắn gọn mà nghĩa thì đầy đủ. Nghĩa danh mà được thành lập thời soi chiếu đến sầu lo, hạ liệt của chúng sanh trong Tam thừa,

至極之有在。然冥化無朕。妙契無言。
chí cực chi hữu tại。nhiên minh hóa vô Trẫm。diệu khế vô ngôn。
cho đến nơi cùng cực vẫn có chiếu đến. Như vậy đốt cháy hóa ra không có Ta đốt, diệu khế nhưng không lời,

任之沖境。則理不虛運。是以此經開誠言為教本。
nhâm chi trùng cảnh。tắc lý bất hư vận。thị dĩ thử Kinh khai thành ngôn vi giáo bổn。
gánh vác cảnh rỗng không, thời chỉnh lý mà không hư thời vận, là do kinh này khai ra thành lời làm căn bổn để chỉ dạy

廣眾喻以會義。建護法以涉初。
quảng chúng dụ dĩ hội nghĩa。kiến hộ Pháp dĩ thiệp sơ。
nhiều ví dụ rộng rãi do lĩnh hội nghĩa; xây dựng, ủng hộ pháp do thiệp với ban đầu,

覩祕藏以窮原。暢千載之固滯。散靈鷲之餘疑。
đổ bí tạng dĩ cùng nguyên。sướng thiên tái chi cố trệ。tán Linh Thứu chi dư nghi。
thấy được Bí Mật Tạng là do nguồn gốc tận cùng, dùng nghìn chữ để tỏ bày, mở Linh Thứu mãi không ngừng.

至於理微幽蟠微於微者。則諸 菩薩 弘郢匠之功。
chí ư lý vi u bàn vi ư vi giả。tắc chư Bồ-tát hoằng dĩnh tượng chi công。
đến lý vi tế, u huyền, ẩn khúc mà vi tế ấy thời do công đức to lớn tài giỏi của chư vị Bồ-tát ,

曠舟船之濟。請難雲搆。飜覆周密。
khoáng chu thuyền chi tế。thỉnh nan vân cấu。phiên phúc châu mật。
làm thuyền rộng mênh mông để cứu tế, xua đi nạn mây mờ, phơi bày những gì bị che lấp,

由使幽塗融坦。宗歸豁然。是故誦其文而不疲。
do sử u đồ dung thản。tông quy khoát nhiên。thị cố tụng kỳ văn nhi bất bì。
do đó mà khiến chốn tối tăm được sáng sủa bằng phẳng, quy về một tông như hang thông suốt hai đầu, vì vậy mà tụng văn kinh ấy không thấy mệt,

語其義而不倦。甘其味而無足。餐其音而不厭。
ngữ kỳ nghĩa nhi bất quyện。cam kỳ vị nhi vô túc。xan kỳ âm nhi bất yếm。
nói nghĩa của kinh ấy không mỏi, uống vị ngọt của kinh mà không thấy đủ, ăn âm tiếng của kinh mà không chán,

始可謂微言興詠於真丹。高韻初唱於赤縣。
thủy khả vị vi ngôn hưng vịnh ư chân đan。cao vận sơ xướng ư xích huyền。
nguyên thủy có thể nói lời vi tế vịnh lên ở Chân đan, Vần cao ban đầu xướng lên ở đỏ huyền,

梵音震響於聾俗。真容巨曜於今日。
Phạm Âm chấn hưởng ư lung tục。chân dung cự diệu ư kim nhật。
Âm Phạm tiếng sét ở thanh tục, chân dung chiếu sáng lừng lẫy ở hôm nay

而寡聞之士。偏執之流。不量愚見。
nhi quả văn chi sĩ。Thiên chấp chi lưu。bất lượng ngu kiến。
mà kẻ sĩ ít nghe biết đến, thiên chấp dòng phái, không lường được chỗ thấy biết ngu dốt của mình

敢評 大聖 無涯之典。遂使是非興於諍論。譏謗生於快心。
cảm bình Đại Thánh vô nhai chi điển。toại sử thị phi hưng ư tránh luận。ky báng sanh ư khoái tâm。
dở trò phẩm bình Kinh điển không cùng của Đại Thánh, thỏa thích thị phi rồi nổi lên tranh cãi, sanh tâm khoái thích phỉ báng.

先覺不能返其迷。眾聖莫能移其志。
tiên giác bất năng phản kỳ mê。chúng Thánh mạc năng di kỳ chí。
Bậc Tiên Giác không thể trở lại như những người mê muội ấy, chúng Thánh cũng chẳng có thể dời đổi ý chí của mình,

方將沈蔽 八邪 之網。長淪 九流 之淵。不亦哀哉。
phương tướng trầm tế bát tà chi võng。trường luân cửu lưu chi uyên。bất diệc ai tai。
nên họ phải bị vùi lấp, chìm đắm trong lưới Tám tà, luân chuyển lâu dài trong chín vực sâu, không thương cũng phải thương xót thay!

不亦哀哉。 天竺 沙門 曇無讖者。 中天 竺人。
bất diệc ai tai。Thiên trúc Sa-môn Đàm-vô-sấm giả。trung Thiên trúc nhân。
Không thương cũng phải thương xót thay! Sa-môn Đàm-vô-sấm ở nước Thiên Trúc . Người ở trong nước Thiên Trúc

婆羅門種。天懷秀拔。領鑒明邃。機辯清勝。
Bà-la-môn chủng。Thiên hoài tú bạt。lĩnh giám minh thúy。ky biện thanh thắng。
Mà thuộc dòng dõi Bà-la-môn , thiên phú đẹp đẽ bạt thiệp hơn người, lĩnh hội sáng suốt sâu sắc, tài biện bác rõ ràng thanh bạch thắng

內外兼綜。將乘運流化。先至燉煌。停止數載。
nội ngoại kiêm tống。tướng thừa vận lưu hóa。tiên chí đôn hoàng。đình chỉ sổ tái。
kiêm cả các Tông trong ngoài, sau này nhân đó mà vận chuyển lưu hóa các nơi, trước tiên đến Đôn Hoàng , dừng lại ở đó vài lần

大沮渠河西王者。至德潛著。建隆王業。
Đại tự cừ hà Tây Vương giả。chí đức tiềm trứ。kiến long Vương nghiệp。
Sau lại đến Đại Tự Cự Hà, kinh thành Vua Tây Hạ, ẩn đức dấu mình, sau đó giúp vua kiến lập vương nghiệp vững bền.

雖形處萬機。每思弘 大道 。為 法城 塹。
tuy hình xử vạn ky 。mỗi tư hoằng Đại đạo 。vi Pháp thành tiệm 。
Hình ảnh của Ngài ảnh hưởng mọi nơi, luôn lo nghĩ hoằng dương đạo lớn, xây đắp nền tảng Phật pháp,

會開定西夏。斯經與讖自遠而至。自非至感先期。
hội khai định Tây hạ 。tư Kinh dữ sấm tự viễn nhi chí 。tự phi chí cảm tiên kỳ 。
sau mở hội thuyết pháp ở Tây Hạ. Kinh này Đàm-vô-sấm đem từ xa đến, chẳng phải tự Ngài cảm hứng từ trước.

孰有若茲之遇哉。讖既達此。
thục hữu nhược tư chi ngộ tai 。sấm ký đạt thử 。
ai gặp được Kinh này và thông suốt sấm ký lợi ích lắm thay.

以玄始十年歲次大梁。十月二十三日。河西王勸請令譯。
dĩ huyền thủy thập niên tuế thứ Đại lương 。thập nguyệt nhị thập tam nhật 。hà Tây Vương khuyến thỉnh linh dịch 。
Niên hiệu Huyền Trỉ năm thứ mười, nhầm Triều Đại Lương. Ngày hai mươi ba, tháng mười, Vua Tây Hạ khuyến thỉnh dịch kinh này.

讖手執梵文。口宣秦言。其人神情既銳。
sấm thủ chấp phạm văn 。khẩu tuyên tần ngôn 。kỳ nhân Thần tình ký nhuệ 。
Tay cầm quyển Ký sấm bằng Phạm văn, miệng giảng tiếng nước Tần. Ngài là bậc kỳ nhân, thần tình thông nhuệ,

而為法殷重。臨譯敬情。殆無遺隱。搜研本正。
nhi vi Pháp ân trọng 。lâm dịch kính tình 。đãi vô di ẩn 。sưu nghiên bổn chánh 。
mà đối với Phật pháp thì sâu nặng, khi phiên dịch thì hết lòng thành cung kính, tuyệt đối không dễ dãi, không để sai sót, tra cứu nghiệm xét bản chánh,

務存經旨。唯恨梵本分離殘缺未備耳。余以庸淺。
vụ tồn Kinh chỉ 。duy hận phạm bổn phân ly tàn khuyết vị bị nhĩ 。dư dĩ dung thiển 。
điều quan trọng là giữ gìn chỗ yếu chỉ của Kinh, chỉ giận là bản tiếng Phạn phân tán thất lạc, thiếu sót chưa đầy đủ vậy. Do đó theo tôi còn thô thiển, cạn cợt

豫遭斯運。夙夜感戢。欣遇良深。聊試標位。
dự tao tư vận 。túc dạ cảm tập 。hân ngộ lương thâm 。liêu thí tiêu vị 。
dự báo trước thời vận này, ngày đêm cảm khái vô cùng, vui mừng vì gặp được duyên lành thâm diệu, liền nêu ra

敘其宗格。豈謂必然闚其宏要者哉。
tự kỳ tông cách 。khởi vị tất nhiên khuy kỳ hoành yếu giả tai 。
mở bày cách thức các Tông, ắt hẳn vậy sao gọi là yếu chỉ rộng lớn ư?

大般 涅槃經 卷第一
Đại Bát-niết-bàn Kinh quyển đệ nhất
KINH ĐẠI BÁT NIẾT BÀN - QUYỂN THỨ NHẤT

北涼 天竺 三藏 曇無讖譯
Bắc Lương Thiên trúc Tam Tạng Đàm-vô-sấm dịch
Đời Bắc Lương Tam Tạng Pháp sư Đàm-vô-sấm người Thiên Trúc dịch

壽命品第一
Thọ mạng phẩm đệ nhất
PHẨM THỨ NHẤT: THỌ MẠNG

如是我聞。
như thị ngã văn。
Tôi nghe như vầy,

一時佛在 拘尸那 國力士生地阿利羅跋提河邊娑羅雙樹間。爾時 世尊
nhất thời Phật tại Câu-thi-na quốc lực sĩ sanh địa a lợi la Bạt đề hà biên sa-la song thụ gian。nhĩ thời Thế tôn
Một thuở nọ, đức Phật ở tại nước Câu-thi-na, đất lực sĩ sanh, bên bờ sông A-lợi-bạt-đề, giữa hai cây Sa-la. Lúc bấy giờ Thế Tôn

與大 比丘 八十億百千人俱。前後圍遶。
dữ Đại Tỳ-kheo bát thập ức bách thiên nhân câu。tiền hậu vi nhiễu。
cùng chúng lớn Tỳ-kheo gồm tám mươi ức ngàn người hội họp, nhiễu quanh trước sau,

二月十五日臨 涅槃 時。以佛神力出大音聲。
nhị nguyệt thập ngũ nhật lâm Niết-Bàn thời。dĩ Phật Thần lực xuất Đại âm thanh。
bấy giờ là ngày rằm tháng hai, Phật sắp nhập Niết-bàn . Phật dùng thần lực xuất ra âm thanh lớn.

其聲遍滿乃至有頂。隨其類音普告眾生。
kỳ thanh biến mãn nãi chí hữu đỉnh。tùy kỳ loại âm phổ cáo chúng sanh。
Âm thanh ấy biến đầy cho đến Hữu Đỉnh, tùy loại âm thanh mà dạy bảo đủ khắp chúng sanh.

今日 如來正遍知 。憐愍眾生覆護眾生。
kim nhật Như-Lai ứng Chánh-biến-Tri 。lân mẫn chúng sanh phúc hộ chúng sanh。
Hôm nay Như Lai Ứng Chánh Biến Tri thương xót chúng sanh, che chở chúng sanh

等視眾生如 羅睺羅 。為作 歸依 屋舍室宅。
đẳng thị chúng sanh như La-hầu-la 。vi tác quy y ốc xá thất trạch。
xem chúng sanh bình đẳng như La-hầu-la để làm quy y , phòng ốc, tinh xá, nhà ở,

大覺 世尊 將欲 涅槃 。一切眾生若有所疑。今悉可問。
Đại giác Thế tôn tướng dục Niết-Bàn 。nhất thiết chúng sanh nhược hữu sở nghi。kim tất khả vấn。
Đại Giác Thế Tôn sắp Niết-bàn . Tất cả chúng sanh nếu có chỗ nghi ngờ, nay có thể hỏi hết

為最後問。爾時 世尊 。於晨朝時從其面門放種種光。
vi tối hậu vấn。nhĩ thời Thế tôn 。ư Thần triêu thời tòng kỳ diện môn phóng chủng chủng quang。
nêu những câu hỏi tối hậu sau cùng. Lúc bấy giờ Thế Tôn , khi còn sớm tinh mơ, ở trước mặt phóng ra các loại ánh sáng.

其明雜色。青黃赤白頗梨馬瑙光。
kỳ minh tạp sắc。thanh hoàng xích bạch pha-lê mã-não quang。
Ánh sáng ấy đủ màu sắc như xanh vàng đỏ trắng pha lê mã não,

遍照此三千大千佛之世界。乃至 十方 亦復如是。
biến chiếu thử tam thiên Đại thiên Phật chi thế giới。nãi chí thập phương diệc phục như thị。
chiếu khắp ba ngàn đại thiên thế giới Phật, cho đến mười phương cũng lại như vậy.

其中所有 六趣 眾生遇斯光者。
kỳ trung sở hữu lục thú chúng sanh ngộ tư quang giả。
Trong chỗ ấy có sáu đường chúng sanh, chúng sanh nào gặp được ánh sáng ấy

罪垢 煩惱 一切消除。是諸眾生見聞是已。心大憂愁。
tội cấu phiền não nhất thiết tiêu trừ。thị chư chúng sanh kiến văn thị dĩ。tâm Đại ưu sầu。
tất cả tội cấu, phiền não đều tiêu trừ. Các chúng sanh ấy thấy nghe như vậy rồi, tâm rất buồn rầu

同時舉聲悲啼號哭。嗚呼慈父。痛哉苦哉。
đồng thời cử thanh bi đề hiệu khốc。ô hô Từ Phụ。thống tai khổ tai。
cùng lúc cất lên tiếng khóc bi thương: Than ôi Cha lành! Thống thay! Khổ thay!

舉手拍頭搥胸叫喚。
cử thủ phách đầu trùy hung khiếu hoán。
rồi đưa tay đánh lên đầu đánh vào ngực kêu la,

其中或有身體戰慄涕泣哽咽。爾時大地諸山大海。皆悉震動。
kỳ trung hoặc hữu thân thể chiến lật thế khấp ngạnh yết。nhĩ thời Đại địa chư sơn Đại hải。giai tất chấn động。
hoặc có người thân thể run rẫy lập cập, nghẹn ngào khóc lóc. Lúc bấy giờ đất lớn, các núi, biển lớn chấn động.

時諸眾生共相謂言。且各裁抑莫大愁苦。
thời chư chúng sanh cộng tương vị ngôn。thả các tài ức mạc Đại sầu khổ。
Khi ấy các chúng sanh cùng nói với nhau rằng: Mỗi người chúng ta tạm dè dặt, đè nén chớ nên quá sầu khổ,

當疾往詣 拘尸那 城力士生處。至 如來 所頭面禮敬。
đương tật vãng nghệ Câu-thi-na thành lực sĩ sanh xử。chí Như-Lai sở đầu diện lễ kính。
phải đi nhanh đến thành Câu-thi-na, xứ lực sĩ sanh, đến chỗ Như Lai để đầu mặt kính lễ,

勸請 如來般涅槃 。住世一劫若減一劫。
khuyến thỉnh Như-Lai mạc bát Niết-Bàn 。trụ thế nhất kiếp nhược giảm nhất kiếp。
khuyến thỉnh Như Lai chớ có Niết-bàn , hãy trụ ở đời thêm một kiếp hoặc ít hơn một kiếp,

互相執手復作是言。世間空虛眾生福盡。
hỗ tương chấp thủ phục tác thị ngôn。thế gian không hư chúng sanh phúc tận。
cùng nhau chắp tay lại nói rằng: Thế gian trống không, rỗng không, chúng sanh phước hết,

不善諸業增長出世。仁等。今當速往速往。
bất thiện chư nghiệp tăng trường xuất thế。nhân đẳng。kim đương tốc vãng tốc vãng。
nghiệp bất thiện sẽ tăng trưởng ở đời. Các vị nay phải nhanh lên, nhanh lên!

如來不久必 入涅槃 。復作是言。世間空虛。
Như-Lai bất cửu tất nhập Niết-Bàn 。phục tác thị ngôn。thế gian không hư。
Không bao lâu nữa Như Lai sẽ vào Niết-bàn ! Rồi lại nói rằng: Thế gian trống rỗng!

世間空虛。我等從今無有救護無所宗仰。貧窮孤露。
thế gian không hư。ngã đẵng tòng kim vô hữu cứu hộ vô sở tông ngưỡng。bần cùng cô lộ。
Thế gian trống rỗng! Chúng ta từ nay không có ai cứu hộ, không có nơi để kính ngưỡng, nghèo hèn cô độc.

一旦遠離無上 世尊 。設有 疑惑 當復問誰。
nhất đán viễn li vô thượng Thế tôn 。thiết hữu nghi hoặc đương phục vấn thùy。
Một mai xa lìa Vô Thượng Thế Tôn , giả sử như có điều gì nghi ngờ lại không biết hỏi ai.

時有無量諸 大弟子 。尊者 摩訶 迦旃延。
thời hữu vô lượng chư Đại đệ-tử 。Tôn-Giả Ma-Ha ca chiên duyên。
Khi ấy có vô lượng đệ tử lớn như Tôn giả Ma-ha Ca-chiên-diên ,

尊者 薄俱羅 。尊者優波 難陀 。如是等諸大 比丘
Tôn-Giả Bạc-Câu-La。Tôn-Giả ưu b A-nan đà。như thị đẳng chư Đại Tỳ-kheo。
Tôn giả Bạc-câu-la , Tôn giả Ưu-ba-nan-đà. Các vị Tỳ-kheo lớn như vậy,

佛光 者其身戰掉。乃至大動不能自持。
ngộ Phật quang giả kỳ thân chiến điệu。nãi chí Đại động bất năng tự trì。
gặp ánh sáng của Phật thì thân run rẫy cho đến một cử động lớn cũng không thể tự giữ.

心濁迷悶發聲大喚。生如是等種種苦惱。
tâm trược mê muộn phát thanh Đại hoán。sanh như thị đẳng chủng chủng khổ não。
Tâm mê muội sầu muộn rồi lớn tiếng la lên rằng: Sống như vậy là bằng với các loại khổ não!

爾時復有八十百千諸 比丘 等。皆 阿羅漢
nhĩ thời phục hữu bát thập bách thiên chư Tỳ-kheo đẳng。giai A-la-hán
Lúc bấy giờ lại có tám mươi trăm ngàn chư vị Tỳ-kheo đều là những bậc A-la-hán ,

心得自在所作已辦。離諸 煩惱 調伏諸根。
tâm đắc tự-tại sở tác dĩ bạn。ly chư phiền não điều phục chư căn。
tâm được tự tại, chỗ làm đã xong, xa lìa các phiền não , các căn đã được điều phục

如大 龍王大威德 。成就 空慧 逮得己利。
như Đại long Vương hữu Đại uy đức。thành tựu không tuệ đãi đắc kỷ lợi。
như Đại Long Vương có uy đức lớn, thành tựu Không tuệ, đã được tự lợi.

如栴 檀林 栴檀圍遶。如 師子王 師子圍遶。
như chiên đàn lâm chiên đàn vi nhiễu。như Sư-tử Vương Sư-tử vi nhiễu。
Như Chiên Đàn Lâm có chiên đàn nhiễu quanh. Như Sư Tử Vương có sư tử nhiễu quanh.

成就如是無量 功德 。一切皆是佛之真子。
thành tựu như thị vô lượng công đức 。nhất thiết giai thị Phật chi chân tử。
Tất cả những vị thành tựu vô lượng công đức như vậy đều là đệ tử chân chánh của Phật.

於其晨朝日始初出。離常住處嚼楊枝時遇 佛光 明。
ư kỳ Thần triêu nhật thủy sơ xuất。ly thường trụ xử tước dương chi thời ngộ Phật quang minh。
Lúc sáng sớm mặt trời mới mọc, chư vị rời chỗ thường ở, nhấm cành dương, khi thấy ánh sáng của Phật

并相謂言。仁等速疾漱口澡手。作是言已。
tinh tướng vị ngôn。nhân đẳng tốc tật sấu khẩu táo thủ。tác thị ngôn dĩ。
đều bảo nhau rằng: Các nhân giả hãy nhanh chóng súc miệng, rửa tay. Nói như vậy xong

舉身毛竪遍體血現如波羅奢花。
cử thân mao thọ biến thể huyết hiện như ba la xa hoa。
trên thân lông dựng đứng lên, máu chảy khắp châu thân hiện rõ như hoa Ba-la-xa,

涕泣盈目生大苦惱。為欲利益安樂眾生。成就 大乘 第一空行。
thế khấp doanh mục sanh Đại khổ não。vi dục lợi ích an lạc chúng sanh。thành tựu Đại thừa đệ nhất không hành。
lệ ứa đầy mắt, hết sức buồn đau. Vì muốn lợi ích an lạc cho chúng sanh, vì muốn cho chúng sanh thành tựu đệ nhất về việc thực hành pháp Không của Đại thừa ,

顯發 如來 方便 密教 。為不斷絕種種說法。
hiển phát Như-Lai phương tiện Mật Giáo。vi bất đoạn tuyệt chủng chủng thuyết Pháp。
hiển rõ phương tiện Mật giáo của Như Lai , vì không để mất hẳn các loại nói pháp,

為諸眾生調伏 因緣 故。疾至佛所稽首佛足。
vi chư chúng sanh điều phục nhân duyên cố。tật chí Phật sở khể thủ Phật túc。
nhân duyên muốn điều phục chúng sanh, vì vậy chúng ta hãy nhanh đến chỗ Phật cúi đầu lễ chân Phật,

繞百千匝。合掌恭敬却坐一面。
nhiễu bách thiên tạp。hợp chưởng cung kính khước tọa nhất diện。
nhiễu quanh trăm ngàn vòng, chắp tay cung kính rồi đứng lùi qua một bên.

爾時復有拘陀羅女。善賢 比丘尼
nhĩ thời phục hữu Câu Đà La nữ。Thiện Hiền Tỳ-kheo-ni。
Lúc bấy giờ lại có Câu-đà-la nữ, Tỳ-kheo-ni Thiện Hiền,

優波 難陀 比丘尼 。海意比丘尼。與六十億比丘尼等。
ưu b A-nan đà Tỳ-kheo-ni。Hải Ý Tỳ-kheo-ni。dữ lục thập ức Tỳ-kheo-ni đẳng。
Tỳ-kheo-ni Ưu-ba-nan-đà, Tỳ-kheo-ni Hải Ý cùng với sáu mươi ức Tỳ-kheo-ni khác.

一切亦是大 阿羅漢 。諸漏已盡。
nhất thiết diệc thị Đại A-la-hán 。chư lậu dĩ tận。
Tất cả cũng đều là những bậc Đại A-la-hán , các lậu hoặc đã dứt hết không còn.

心得自在所作已辦。離諸 煩惱 調伏諸根。
tâm đắc tự-tại sở tác dĩ bạn。ly chư phiền não điều phục chư căn。
Tâm được tự tại, chỗ đáng làm đã làm xong, xa lìa các phiền não , các căn đã được điều phục

猶如大龍有 大威德 。成就 空慧 。亦於晨朝日初出時。
do như Đại long hữu Đại uy đức。thành tựu không tuệ 。diệc ư Thần triêu nhật sơ xuất thời。
giống như Đại Long có uy đức lớn, thành tựu trí tuệ về Không, cũng vào lúc sáng sớm mặt trời vừa mới mọc,

舉身毛竪遍體血現如波羅奢花。
cử thân mao thọ biến thể huyết hiện như ba la xa hoa。
trên thân lông tóc dựng lên, máu chảy khắp châu thân hiện lên như hoa Ba-la-xa,

涕泣盈目生大苦惱。亦欲利益安樂眾生。
thế khấp doanh mục sanh Đại khổ não。diệc dục lợi ích an lạc chúng sanh。
lệ ứa đầy mắt, hết sức khổ não, cũng muốn lợi ích an lạc cho chúng sanh

成就 大乘 第一空行。顯發 如來 方便 密教 。為不斷絕種種說法。
thành tựu Đại thừa đệ nhất không hành。hiển phát Như-Lai phương tiện Mật Giáo。vi bất đoạn tuyệt chủng chủng thuyết Pháp。
thành tựu đệ nhất về việc thực hành pháp Không của Đại thừa , hiển rõ phương tiện Mật giáo của Như Lai , vì muốn không để mất hẳn các loại thuyết pháp,

為諸眾生調伏 因緣 故。疾至佛所稽首佛足。
vi chư chúng sanh điều phục nhân duyên cố。tật chí Phật sở khể thủ Phật túc。
nhân duyên muốn điều phục chúng sanh, vì vậy hãy nhanh đến chỗ Phật, cúi đầu lễ chân Phật,

遶百千匝。合掌恭敬却坐一面。
nhiễu bách thiên tạp。hợp chưởng cung kính khước tọa nhất diện。
nhiễu quanh trăm ngàn vòng, chắp tay cung kính rồi đứng lùi qua một bên.

比丘尼 眾中復有諸比丘尼。皆是 菩薩 人中之龍。
ư Tỳ-kheo-ni chúng trung phục hữu chư Tỳ-kheo-ni。giai thị Bồ-tát nhân trung chi long。
Ở trong chúng Tỳ-kheo-ni lại có chư Tỳ-kheo-ni là rồng làm Bồ-tát người,

位階 十地 安住 不動 。為化眾生現受女身。
vị giai thập địa an trú bất động 。vị hóa chúng sanh hiện thọ nữ thân。
đều ở ngôi Thập Địa an trụ Bất Động, vì giáo hóa chúng sanh mà hiện thân nữ,

而常修集 四無量心 。得自在力能化作佛。
nhi thường tu tập tứ vô lượng tâm 。đắc tự-tại lực năng hóa tác Phật。
thường tu tập Tứ vô lượng tâm, được lực tự tại, có thể hóa thành Phật.

爾時復有 一恒河沙 菩薩 摩訶薩。人中之龍。
nhĩ thời phục hữu nhất hằng hà sa Bồ-tát Ma-Ha tát。nhân trung chi long。
Lúc bấy giờ lại có một hằng hà sa Bồ-tát Ma-ha -tát, trong số Bồ-tát người đó có rồng

位階 十地 安住 不動 。方便現身。
vị giai thập địa an trú bất động 。phương tiện hiện thân。
ở ngôi Thập địa an trụ Bất Động, vì phương tiện mà hiện thân ấy.

其名曰海德 菩薩無盡意 菩薩。
kỳ danh viết hải đức Bồ-tát 。vô tận ý Bồ-tát。
Tên của các vị ấy là Hải Đức Bồ-tát , Vô Tận Ý Bồ-tát,

如是等 菩薩 摩訶薩而為上首。其心皆悉敬重 大乘
như thị đẳng Bồ-tát Ma-Ha tát nhi vi thượng thủ。kỳ tâm giai tất kính trọng Đại thừa
các vị Bồ-tát Ma-ha -tát như vậy đều là những bậc thượng thủ. Tâm của các vị đều kính trọng Đại thừa ,

安住 大乘 深解大乘。愛樂大乘守護大乘。
an trú Đại thừa thâm giải Đại thừa。ái lạc Đại thừa thủ hộ Đại thừa。
an trú ở Đại thừa , hiểu biết sâu sắc về Đại thừa, yêu thích Đại thừa, giữ gìn Đại thừa,

善能隨順一切世間作是誓言。諸未度者當令得度。
thiện năng tùy thuận nhất thiết thế gian tác thị thệ ngôn。chư vị độ giả đương lệnh đắc độ。
thường khéo léo tùy thuận chúng sanh mà phát lời thệ rằng: người chưa độ khiến cho được độ,

已於過世無數劫中。修持淨戒善持所行解未解者。
dĩ ư quá thế vô sổ kiếp trung。tu trì tịnh giới thiện trì sở hạnh giải vị giải giả。
vô số kiếp trong đời quá khứ đã tu trì tịnh giới, khéo duy trì hạnh giải thoát cho người chưa giải thoát,

三寶 種使不斷絕。於 未來世 當轉 法輪
thiệu Tam Bảo chủng sử bất đoạn tuyệt。ư vị lai thế đương chuyển Pháp luân
nối tiếp hạt giống Tam Bảo không để tuyệt mất, sẽ chuyển bánh xe pháp trong đời vị lai,

大莊嚴 而自莊嚴。成就如是無量 功德
dĩ Đại trang nghiêm nhi tự trang nghiêm。thành tựu như thị vô lượng công đức
dùng đại trang nghiêm để tự trang nghiêm, thành tựu vô lượng công đức như vậy,

等觀眾生如視一子亦於晨朝日初出時遇 佛光 明。
đẳng quán chúng sanh như thị nhất tử diệc ư Thần triêu nhật sơ xuất thời ngộ Phật quang -minh。
bình đẳng quán chúng sanh giống như con một, cũng vào lúc sáng sớm, khi mặt trời vừa mới mọc,

舉身毛竪遍體血現如波羅奢花。
cử thân mao thọ biến thể huyết hiện như ba la xa hoa。
trên thân lông tóc dựng lên, máu huyết chảy khắp châu thân hiện lên như hoa Ba-la-xa,

涕泣盈目生大苦惱。亦為利益安樂眾生。
thế khấp doanh mục sanh Đại khổ não。diệc vi lợi ích an lạc chúng sanh。
lệ ứa đầy mắt, hết sức khổ não. Các vị ấy cũng vì lợi ích an lạc cho chúng sanh

成就 大乘 第一空行。顯發 如來 方便 密教
thành tựu Đại thừa đệ nhất không hành。hiển phát Như-Lai phương tiện Mật Giáo。
thành tựu đệ nhất về hạnh thực hành pháp Không của Đại thừa , hiển rõ phương tiện Mật giáo của Như Lai ,

為不斷絕種種說法。為諸眾生調伏 因緣 故。
vi bất đoạn tuyệt chủng chủng thuyết Pháp。vi chư chúng sanh điều phục nhân duyên cố。
vì không để mất hẳn các loại thuyết pháp, vì nhân duyên điều phục chúng sanh,

疾至佛所稽首佛足。繞百千匝。合掌恭敬却坐一面。
tật chí Phật sở khể thủ Phật túc。nhiễu bách thiên tạp。hợp chưởng cung kính khước tọa nhất diện。
vậy hãy nhanh đến chỗ Phật cúi đầu lễ chân Phật, nhiễu quanh trăm ngàn vòng, chắp tay cung kính rồi đứng lùi qua một bên.

爾時復有二恒河沙諸 優婆塞
nhĩ thời phục hữu nhị hằng hà sa chư Ưu bà tắc。
Lúc bấy giờ lại có hai hằng hà sa các Ưu-bà-tắc

受持 五戒 威儀具足。其名曰威德無垢稱王 優婆塞
thọ trì ngũ giới uy nghi cụ túc。kỳ danh viết uy đức vô cấu xưng Vương Ưu bà tắc。
thọ trì năm giới uy nghi đầy đủ. Tên của các vị ấy là Ưu-bà-tắc Nhật Uy Đức Vô Cấu Xưng Vương,

善德 優婆塞 等。而為上首。深樂觀察諸對治門。
thiện đức Ưu bà tắc đẳng。nhi vi thượng thủ。thâm lạc quan sát chư đối trì môn。
Ưu-bà-tắc Thiện Ưu, các vị Ưu-bà-tắc như vậy đều là những bậc Thượng thủ, quán sát sâu xa về lạc thú để đối trị với các môn

所謂苦樂常 無常 淨不淨我 無我 實不實。
sở vị khổ lạc thường vô thường tịnh bất tịnh ngã vô ngã thật bất thật。
đó là Khổ, Lạc, Thường, Vô thường, Tịnh, Bất tịnh, Ngã, Vô ngã, Thật, không thật,

歸依非歸依。眾生非眾生。恒非恒安非安。
quy y phi quy y。chúng sanh phi chúng sanh。hằng phi hằng an phi an。
quy y phi quy y, chúng sanh phi chúng sanh, hằng phi hằng, an phi an,

為無為斷不斷。 涅槃 非涅槃。增上非增上。
vi vô vi đoạn bất đoạn。 Niết-Bàn phi Niết-Bàn。tăng thượng phi tăng thượng。
Vi vô vi , đoạn bất đoạn, Niết-bàn phi Niết-bàn, Tăng thượng phi tăng thượng,

常樂觀察如是等法對治之門。亦欲樂聞無上 大乘
thường lạc quan sát như thị đẳng Pháp đối trì chi môn。diệc dục lạc văn vô thượng Đại thừa
thường vui ưa thích quán sát các pháp như vậy để đối trị các môn, cũng ham muốn nghe Đại thừa vô thượng,

如所聞已能為他說。善持淨戒渴仰 大乘
như sở văn dĩ năng vi tha thuyết。thiện trì tịnh giới khát ngưỡng Đại thừa
như chỗ nghe rồi có thể nói lại cho người khác, khéo giữ tịnh giới, kính ngưỡng Đại thừa

既自充足。復能充足餘渴仰者。
ký tự sung túc。phục năng sung túc dư khát ngưỡng giả。
đã tự đầy đủ. Lại nữa, ngoài việc có thể đầy đủ kính ngưỡng ấy

善能攝取無上智慧。愛樂 大乘 守護大乘。
thiện năng nhiếp thủ vô thượng trí tuệ。ái lạc Đại thừa thủ hộ Đại thừa。
còn có thể khéo Nhiếp thủ Trí tuệ vô thượng, yêu thích Đại thừa , giữ gìn Đại thừa,

善能隨順一切世間。度未度者。解未解者。
thiện năng tùy thuận nhất thiết thế gian。độ vị độ giả。giải vị giải giả。
có thể kéo léo tùy thuận với hết thảy thế gian độ người chưa được độ, giải thoát cho người chưa giải thoát,

三寶 種使不斷絕。於 未來世 當轉 法輪
thiệu Tam Bảo chủng sử bất đoạn tuyệt。ư vị lai thế đương chuyển Pháp luân
nối tiếp hạt giống Tam Bảo khiến cho không bị mất hẳn, sẽ chuyển bánh xe Pháp trong đời vị lai,

大莊嚴 而自莊嚴。心常深味清淨戒行。悉能成就如是 功德
dĩ Đại trang nghiêm nhi tự trang nghiêm。tâm thường thâm vị thanh tịnh giới hành。tất năng thành tựu như thị công đức
dùng đại trang nghiêm để tự trang nghiêm mình, tâm thường yêu thích vị thanh tịnh giới hạnh. Hết thảy công đức như vậy đều có thể thành tựu,

於諸眾生生 大悲心 。平等無 二如 視一子。
ư chư chúng sanh sanh Đại bi tâm。bình đẳng vô nhị như thị nhất tử。
đối với chúng sanh sanh tâm từ bi lớn, xem tất cả đều bình đẳng như con một chẳng phải hai,

亦於晨朝日初出時。為欲闍毘 如來身 故。
diệc ư Thần triêu nhật sơ xuất thời。vi dục xà tì Như-Lai thân cố。
cũng vào lúc sáng sớm mặt trời vừa mới mọc, vì sắp trà tì thân Như Lai vì vậy

人人各取香木萬束。
nhân nhân các thủ hương mộc vạn thúc。
mọi người đều cầm một vạn cây hương buộc lại

栴檀沈水 牛頭栴檀 天木香等。是一一木文理及附。皆有 七寶 微妙光明。
chiên đàn trầm thủy ngưu đầu chiên đàn Thiên mộc hương đẳng。thị nhất nhất mộc văn lý cập phụ。giai hữu thất bảo vi diệu quang-minh。
như chiên đàn, trầm thủy, ngưu đầu, chiên đàn thiên, mộc hương v.v.. Mỗi mỗi cây đều được sửa sang đẹp đẽ và có phụ thêm áng sáng vi diệu của bảy báu

譬如種種雜彩畫飾。
thí như chủng chủng tạp thải họa sức。
giống như bức tranh có trang sức đủ loại ánh sáng.

佛力 故有是妙色青黃赤白。為諸眾生之所樂見。
Phật lực cố hữu thị diệu sắc thanh hoàng xích bạch。vi chư chúng sanh chi sở lạc kiến。
Do lực của Phật nên có những diệu sắc xanh vàng đỏ trắng như vậy, làm cho chúng sanh thấy là yêu thích.

諸木皆以種種香塗。欝金沈水及膠香等。
chư mộc giai dĩ chủng chủng hương đồ。uất kim trầm thủy cập giao hương đẳng。
Các cây đều dùng bằng nhiều thứ như đồ hương, uất kim, trầm thủy và giao hương v.v..

散以諸花而為莊嚴。 優鉢羅 花。 拘物頭 花。 波頭摩 花。
tán dĩ chư hoa nhi vi trang nghiêm。 Ưu bát la hoa。 câu vật đầu hoa。ba đầu ma hoa。
rồi dùng hoa mà rải lên làm cho trang nghiêm như hoa Ưu-bát-la, hoa Câu-đầu-la, hoa Ba-đầu-ma,

分陀利花諸香木上懸 五色 幡。柔軟微妙猶如天衣。
phân đà lợi hoa chư hương mộc thượng huyền ngũ sắc phiên。nhu nhuyễn vi diệu do như Thiên y。
hoa Phân-đà-lợi. Trên các cây hương là treo cờ hiệu năm sắc, mềm mại vi diệu, giống như vải trời,

憍奢耶衣芻摩繒綵。是諸香木載以寶車。
kiêu xa da y sô ma tăng thải。thị chư hương mộc tái dĩ bảo xa。
vải kiêu xa, vải cỏ, vải tơ lụa dày năm màu. Những cây hương đó được dùng xe báu để chở.

是諸寶車出種種光青黃赤白。
thị chư bảo xa xuất chủng chủng quang thanh hoàng xích bạch。
Các xe báu đó phát ra đủ loại màu sắc như xanh vàng đỏ trắng.

轅轢皆以 七寶 廁填。是一一車駕以四馬。
viên lịch giai dĩ thất bảo xí điền。thị nhất nhất xa giá dĩ tứ mã。
Càng xe là dùng bảy báu bọc kín lại. Mỗi mỗi xe là cột bốn con ngựa,

是一一馬駿疾如風。一一車前竪立五十 七寶 妙幢。
thị nhất nhất mã tuấn tật như phong。nhất nhất xa tiền thọ lập ngũ thập thất bảo diệu tràng。
mỗi mỗi con ngựa tốt chạy nhanh như gió, trước mỗi mỗi xe dựng lên năm mươi cây cờ bằng bảy báu đẹp,

真金羅網彌覆其上。一一寶車復有五十微妙寶蓋。
chân kim la võng di phúc kỳ thượng。nhất nhất bảo xa phục hữu ngũ thập vi diệu bảo cái。
rồi dùng lưới bằng vàng thật phủ kín lên trên. Mỗi mỗi xe báu lại có năm mươi lọng báu vi diệu.

一一車上垂諸花鬘。 優鉢羅 花。 拘物頭 花。
nhất nhất xa thượng thùy chư hoa man。 Ưu bát la hoa。 câu vật đầu hoa。
trên mỗi mỗi xe có các hoa man rủ xuống như hoa Ưu-bát-la, hoa Câu-vật-đầu,

波頭摩花。 分陀利 花其花純以真金為葉。
ba đầu ma hoa。 phân đà lợi hoa kỳ hoa thuần dĩ chân kim vi diệp。
hoa Ba-đầu-ma, hoa Phân-đà-lợi. Các hoa ấy thuần dùng vàng thật làm lá,

金剛為臺。是花臺中多有黑蜂。
Kim cương vi đài。thị hoa đài trung đa hữu hắc phong。
kim cương làm đài. Trong các đài hoa có nhiều ong đen,

遊集其中歡娛受樂。又出妙音所謂 無常 苦空 無我
du tập kỳ trung hoan ngu thọ lạc。hựu xuất Diệu-Âm sở vị vô thường khổ không vô ngã
bay vào tập hợp trong đó vui mừng sướng thích, lại phát ra âm thanh vi diệu như Vô thường, Khổ, Vô ngã.

是音聲中復說 菩薩 本所行道。
thị âm thanh trung phục thuyết Bồ-tát bổn sở hạnh đạo。
Trong âm thanh ấy lại nói sở nguyện hành đạo của Bồ-tát ,

復有種種歌舞伎樂箏笛箜篌簫瑟鼓吹。是樂音中復出是言。
phục hữu chủng chủng ca vũ kĩ nhạc tranh địch không hầu tiêu sắt cổ xuy。thị nhạc âm trung phục xuất thị ngôn。
lại có các loại ca múa, kỹ nhạc, đàn tranh, không hầu, sáo, đàn sắt, trổi trống. Trong các loại âm nhạc đó lại phát ra tiếng rằng:

苦哉苦哉。世間空虛。
khổ tai khổ tai。thế gian không hư。
Khổ thay! Khổ thay! Thế gian trống rỗng!

一一車前有 優婆塞 擎四寶案。是諸案上有種種花。 優鉢羅 花。
nhất nhất xa tiền hữu Ưu bà tắc kình tứ bảo án。thị chư án thượng hữu chủng chủng hoa。 Ưu bát la hoa。
Trước mỗi mỗi xe có bốn Ưu-bà-tắc vác bốn bàn báu. Trên các bàn có đủ loại hoa như hoa Ưu-bát-la,

拘物頭花。 波頭摩 花。 分陀利 花。
câu vật đầu hoa。ba đầu ma hoa。 phân đà lợi hoa。
hoa Câu-vật-đầu, hoa Ba-đầu-ma, hoa Phân-đà-lợi,

欝金諸香及餘薰香。微妙第一。諸 優婆塞 為佛及僧。
uất kim chư hương cập dư huân hương。vi diệu đệ nhất。chư Ưu bà tắc vi Phật cập tăng。
các hương như uất kim và các thứ hương cỏ thơm khác vi diệu đệ nhất. Các vị Ưu-bà-tắc vì Phật và Tăng

辦諸食具種種備足。皆是栴檀沈水香薪。
bạn chư thực cụ chủng chủng bị túc。giai thị chiên đàn trầm thủy hương tân。
mà chuẩn bị đầy đủ các loại thức ăn đều là những loại chiên đàn, trầm thủy, hương tân.

功德水 之所成熟其食甘美有六種味。
bát công đức thủy chi sở thành thục kỳ thực cam mỹ hữu lục chủng vị。
Thức ăn ấy được nấu thành từ chỗ nước Tám công đức , có sáu loại vị ngọt ngon đó là:

一苦二醋三甘四辛五醎六淡。復有 三德 。一者輕軟。
nhất khổ nhị thố tam cam tứ tân ngũ 醎lục đạm。phục hữu tam đức 。nhất giả khinh nhuyễn。
một là đắng, hai là chua, ba là ngọt, bốn là cay, năm là mặn, sáu là nhạt. Lại có ba đức: một là nhẹ nhàng, mềm mại,

二者淨潔。三者如法。作如是等種種莊嚴。
nhị giả tịnh khiết。tam giả như Pháp。tác như thị đẳng chủng chủng trang nghiêm。
hai là trong sạch, bà là như pháp, các loại như vậy để làm trang nghiêm.

至力士生處娑羅雙樹間。復以金沙遍布其地。
chí Lực sĩ sanh xứ Sa-la song thụ gian。phục dĩ kim sa biến bố kỳ địa。
Lại nói đến xứ Lực sĩ sanh, giữa hai cây Sa-la, dùng các vàng để phủ khắp trên mặt đất,

以加陵伽衣欽婆羅衣及繒綵衣而覆沙上。
dĩ ca lăng già y khâm bà la y cập tăng thải y nhi phúc sa thượng。
lấy vải Ca-lăng-già, vải Khâm-bà-la và vải lụa dày mà phủ trên cát

周匝遍滿十二 由旬
châu tạp biến mãn thập nhị do-tuần
giáp vòng là hai mươi do tuần,

為佛及僧敷置 七寶 師子之座。其座高大如 須彌山
vi Phật cập tăng phu trí thất bảo Sư-tử chi tọa。kỳ tọa cao Đại như Tu-Di sơn。
vì Phật và Tăng mà bày biện sắp đặt các tòa Sư tử bảy báu. Tòa ấy cao lớn như núi Tu-di ,

是諸座上皆有寶帳垂諸瓔珞。
thị chư tọa thượng giai hữu bảo trướng thùy chư anh lạc。
trên các tòa đều có màn báu bằng chuỗi anh lạc rũ xuống.

諸娑羅樹悉懸種種微妙幡蓋。種種好香以塗樹身。種種名花以散樹間。
chư sa-la thụ tất huyền chủng chủng vi diệu phiên cái。chủng chủng hảo hương dĩ đồ thụ thân。chủng chủng danh hoa dĩ tán thụ gian。
Trên các cây Sa-la đều treo đủ loại phan lọng tốt đẹp, đủ loại hương thơm dùng để xoa thân, đủ loại dùng để rải lên giữa hai cây Sa-la.

優婆塞 各作是念。一切眾生若有所乏。
chư Ưu bà tắc các tác thị niệm。nhất thiết chúng sanh nhược hữu sở phạp。
Chư vị Ưu-bà-tắc đều nghĩ rằng: Tất cả chúng sanh nếu có người thiếu thốn

須食與食須飲與飲。須頭與頭須目與目。
tu thực dữ thực tu ẩm dữ ẩm。tu đầu dữ đầu tu mục dữ mục。
phải cho ăn, cho ăn phải cho uống, cho uống phải cho đầu, cho đầu phải cho mắt, cho mắt phải

隨諸眾生所須之物皆悉給與。
tùy chư chúng sanh sở tu chi vật giai tất cấp dữ。
tùy chỗ tùy vật chúng sanh muốn đều cấp đủ tất cả.

作是施時離欲瞋恚穢濁毒心。無餘思惟求世福樂。
tác thị thí thời ly dục sân khuể uế trược độc tâm。vô dư tư duy cầu thế phúc lạc。
Khi làm việc bố thí đó chúng ta phải xa rời tâm tham muốn, sân giận, nhơ trược, độc hại, không suy nghĩ gì khác ngoài việc cầu phước lạc,

唯期無上清淨 菩提 。是 優婆塞 等皆已安住於 菩薩 道。
duy kỳ vô thượng thanh tịnh bồ đề。thị Ưu bà tắc đẳng giai dĩ an trú ư Bồ-tát đạo。
chỉ mong đến Vô thượng thanh tịnh Bồ đề. Các vị Ưu-bà-tắc đó đã an trụ ở đạo Bồ đề,

復作是念。 如來 今者受我食已當 入涅槃
phục tác thị niệm。 Như Lai kim giả thọ ngã thực dĩ đương nhập Niết-bàn
lại nghĩ như vầy: Nay Như Lai nhận thức ăn của ta xong sẽ vào Niết-bàn .

作是念已身毛皆竪。遍體血現如波羅奢花。
tác thị niệm dĩ thân mao giai thọ。biến thể huyết hiện như ba la xa hoa。
Nghĩ như vậy xong, trên thân lông tóc dựng lên, máu chảy khắp châu thân nổi lên giống như hoa Ba-la-xa,

涕泣盈目生大苦惱。各各齎持供養之具。
thế khấp doanh mục sanh Đại khổ não。các các tê trì cung dưỡng chi cụ。
lệ ứa đầy mắt rất là buồn khổ. Mỗi mỗi người đều mang đầy đủ các thứ để cúng dường,

載以寶車香木幢幡寶蓋飲食。
tái dĩ bảo xa hương mộc tràng phiên bảo cái ẩm thực。
dùng xe báu để chở các cây hương, tràng phan, lọng báu, thức ăn vật uống,

疾至佛所稽首佛足。以其所持供養之具。供養 如來 遶百千匝。
tật chí Phật sở khể thủ Phật túc。dĩ kỳ sở trì cung dưỡng chi cụ。cung dưỡng Như Lai nhiễu bách thiên tạp。
nhanh đến chỗ Phật cúi đầu lễ chân Phật, lấy những thứ mang theo để cúng dường ấy, cúng dường lên Như Lai , rồi nhiễu quanh trăm ngàn vòng,

舉聲號泣哀動天地。搥胸大叫淚下如雨。
cử thanh hiệu khấp ai động Thiên địa。trùy hung Đại khiếu lệ hạ như vũ。
cất lên tiếng khóc bi ai làm động đến trời đất, đánh ngực kêu la lớn nước mắt rơi như mưa.

復相謂言。苦哉仁者。世間空虛。世間空虛。
phục tướng vị ngôn。khổ tai nhân giả。thế gian không hư。thế gian không hư。
Lại bảo với nhau rằng: Khổ thay Nhân giả! Thế gian trống rỗng! Thế gian trống rỗng!

便自舉身投 如來 前而白佛言。唯願如來。
tiện tự cử thân đầu Như Lai tiền nhi bạch Phật ngôn。duy nguyện Như Lai。
Rồi lấy thân mình nhào vào Như Lai mà bạch Phật rằng: Xin nguyện Như Lai

哀受我等最後供養。 世尊 知時默然不受。
ai thọ ngã đẵng tối hậu cung dưỡng。 Thế tôn tri thời mặc nhiên bất thọ。
thương xót nhận sự cúng dường sau cùng của chúng con! Khi Thế Tôn im lặng, như vậy biết không nhận,

如是三請悉皆不許。諸 優婆塞 不果所願。
như thị tam thỉnh tất giai bất hứa。chư Ưu bà tắc bất quả sở nguyện。
thỉnh ba lần như vậy đều bị từ chối thì các vị Ưu-bà-tắc không được kết quả như chỗ mình mong muốn.

心懷悲惱默然而住。猶如慈父唯有一子卒病喪亡。
tâm hoài bi não mặc nhiên nhi trụ。do như Từ Phụ duy hữu nhất tử tốt bệnh tang vong。
Tâm mãi buồn phiền im lặng mà đứng, giống như người cha lành chỉ có một đứa con mà bị bệnh chết mất.

送其屍骸置於塚間。歸還悵恨愁憂苦惱。
tống kỳ thi hài trí ư trủng gian。quy hoàn trướng hận sầu ưu khổ não。
Thi hài của người con ấy đem đặt ở giữa cái mả cao, khi trở về nhà cứ buồn bã, hận sầu, lo âu khổ não.

優婆塞 憂愁苦惱亦復如是。
chư Ưu bà tắc ưu sầu khổ não diệc phục như thị。
Các vị Ưu-bà-tắc lo sầu khổ não cũng lại như vậy,

以諸供具安置一處。却在一面默然而坐。
dĩ chư cung cụ an trí nhất xử。khước tại nhất diện mặc nhiên nhi tọa。
lấy các thứ cúng dường đặt vào một chỗ, rồi lùi vào một bên im lặng mà ngồi.

爾時復有三恒河沙諸 優婆夷
nhĩ thời phục hữu tam hằng hà sa chư Ưu bà di。
Lúc bấy giờ lại có ba hằng hà sa Ưu-bà-di

受持 五戒 威儀具足。其名曰壽德 優婆夷 。德鬘優婆夷。
thọ trì ngũ giới uy nghi cụ túc。kỳ danh viết thọ đức Ưu bà di。đức man Ưu bà di。
thọ trì năm giới uy nghi đầy đủ. Tên của các vị ấy là Ưu-bà-di Nhật Thọ Đức, Ưu-bà-di Đức Man,

毘舍佉 優婆夷 等。八萬四千而為上首。
Tì xá khư Ưu bà di đẳng。bát vạn tứ thiên nhi vi thượng thủ。
Ưu-bà-di Tỳ-xá-khư, các vị Ưu-bà-di như vậy vì tám vạn bốn ngàn người mà làm bậc thượng thủ.

悉能堪任護持 正法 。為度無量百千眾生故。
tất năng kham nhậm hộ trì chánh Pháp。vi độ vô lượng bách thiên chúng sanh cố。
tất cả đều có thể kham nhận và giữ gìn chánh pháp , vì muốn độ vô lượng chúng sanh nên

現女身呵責家法。自觀己身如四毒蛇。
hiện nữ thân ha trách gia Pháp。tự quán kỷ thân như tứ độc xà。
hiện thân nữ để quở trách nhà pháp, quán thấy tự thân giống bốn con rắn độc.

是身常為無量諸虫之所唼食。是身臭穢貪欲獄縛。
thị thân thường vi vô lượng chư trùng chi sở xiệp thực。thị thân xú uế tham dục ngục phược。
Thân đó thường làm nơi ăn uống của vô lượng các loại trùng. Thân ấy thường hôi thối nhơ uế bị trói buộc trong ngục tù ham muốn.

是身可惡猶如死狗。是身不淨 九孔 常流。
thị thân khả ác do như tử cẩu。thị thân bất tịnh cửu khổng thường lưu。
Thân ấy có thể xấu giống như chó chết. Thân ấy không sạch, thường có nước chảy ra ở chín lỗ.

是身如城血肉筋骨皮裹其上。手足以為却敵樓櫓。
thị thân như thành huyết nhục cân cốt bì khoả kỳ thượng。thủ túc dĩ vi khước địch lâu lỗ。
Thân ấy giống cái thành có máu mủ thịt gân xương da bao bọc bên ngoài. Tay chân dùng để chống đỡ cái mộc lớn của nhà lầu.

目為竅孔。頭為殿堂心王處中。
mục vi khiếu khổng。đầu vi điện đường tâm Vương xử trung。
Mắt là cái lỗ rỗng không, bên trong đầu làm đền nhà cho vua tâm ở.

如是身城諸 佛世尊 之所棄捨。凡夫愚人常所味著。
như thị thân thành chư Phật Thế tôn chi sở khí xả。phàm phu ngu nhân thường sở vị trứ。
Thân thể là chỗ xấu xa như vậy nên chư Phật Thế Tôn xả bỏ. Người phàm phu ngu muội thường đắm trước vào các vị

貪婬瞋恚愚癡 羅剎 止住其中。
tham dâm sân khuể ngu si La sát chỉ trụ kỳ trung。
tham lam, dâm dật, sân giận, ngu si là chỗ La-sát thường dừng ở trong đó.

是身不堅猶如蘆葦伊蘭水泡芭蕉之樹。
thị thân bất kiên do như lô vi y lan thủy phao ba tiêu chi thụ。
Thân ấy không bền giống như cỏ lau, y lan, bọt nước, cây chuối.

是身 無常 念念不住。猶如電光暴水幻炎。亦如畫水隨畫隨合。
thị thân vô thường niệm niệm bất trụ。do như điện quang bạo thủy huyễn viêm。diệc như họa thủy tùy họa tùy hợp。
Thân ấy vô thường , niệm niệm không đứng yên giống như sáng chớp, như chợt đến, như nước, như huyễn, như lửa cháy, cũng như vạch nước tùy theo đường vạch theo hợp lại.

是身易壞猶如河岸臨峻大樹。
thị thân dịch hoại do như hà ngạn lâm tuấn Đại thụ。
Thân ấy dễ bị hư hoại giống như cây to lớn bên mé bờ sông.

是身不久當為狐狼鵄梟鵰鷲烏鵲餓狗之所食噉。
thị thân bất cửu đương vi hồ lang 鵄kiêu điêu thứu ô thước ngạ cẩu chi sở thực đạm。
Thân ấy không bao lâu sẽ làm thức ăn nhai nuốt cho các giống như hổ, chó sói, chim kiêu, chim cắt, kên kên, chó đói.

誰有智者當樂此身。寧以牛跡盛大海水。
thùy hữu trí giả đương lạc thử thân。ninh dĩ ngưu tích thịnh Đại hải thủy。
Ai là kẻ trí mà lại thích thân này? Như dùng vết chân trâu đầy cả nước biển lớn

不能具說是身 無常 不淨臭穢。
bất năng cụ thuyết thị thân vô thường bất tịnh xú uế。
cũng không thể nói cho hết thân đó là vô thường , bất tịnh, nhơ uế.

寧丸大地使如棗等。漸漸轉小猶葶藶子乃至微塵。
ninh hoàn Đại địa sử như tảo đẳng。tiệm tiệm chuyển tiểu do đình lịch tử nãi chí vi trần。
Thà khiến cho hòn đất lớn làm nhỏ lại bằng quả táo, nhỏ dần nhỏ dần giống như cây rau đay cho đến chỉ bằng hạt bụi

不能具說是身過患。是故當捨如棄涕唾。
bất năng cụ thuyết thị thân quá hoạn。thị cố đương xả như khí thế thóa。
cũng không thể nói đủ tội lỗi của thân đó, vì vậy phải xả bỏ như bỏ nước mắt, nước miếng.

以是 因緣優婆夷 。以 空無 相無願之法常修其心。
dĩ thị nhân duyên chư Ưu bà di。dĩ không vô tướng vô nguyện chi Pháp thường tu kỳ tâm。
Do nhân duyên đó mà các Ưu-bà-di lấy pháp Không, Vô tướng, Vô nguyện để thường tu tâm,

深樂諮受 大乘經 典。
thâm lạc ti thọ Đại thừa Kinh điển。
rất thích mưu cầu Kinh điển Đại thừa ,

聞已亦能為他演說護持本願。毀呰女身甚可患厭性不 堅牢
văn dĩ diệc năng vi tha diễn thuyết hộ trì Bổn Nguyện。hủy 呰nữ thân thậm khả hoạn yếm tánh bất kiên lao
nghe rồi cũng có thể vì người khác mà diễn thuyết, hộ trì bổn nguyện của mình, hủy bỏ thân nữ hết sức buồn chán, không bền chắc ấy.

心常修集如是正觀。破壞生死無際輪轉。
tâm thường tu tập như thị chánh quán。phá hoại sanh tử vô tế luân chuyển。
Tâm thường chánh quán tu tập như vậy để phá hoại bánh xe sanh tử không còn chuyển tiếp nữa,

渴仰 大乘 既自充足。復能充足餘渴仰者。
khát ngưỡng Đại thừa ký tự sung túc。phục năng sung túc dư khát ngưỡng giả。
kính ngưỡng Đại thừa đã tự đầy đủ. Ngoài việc kính ngưỡng Đại thừa có thể tự đầy đủ rồi, các Ưu-bà-di

深樂 大乘 守護大乘。
thâm lạc Đại thừa thủ hộ Đại thừa。
còn rất thích Đại thừa , giữ gìn Đại thừa,

雖現女身實是 菩薩 善能隨順一切世間。度未度者解未解者。
tuy hiện nữ thân thật thị Bồ-tát thiện năng tùy thuận nhất thiết thế gian。độ vị độ giả giải vị giải giả。
tuy hiện thân nữ nhưng thật sự là Bồ-tát khéo hay vì tùy thuận hết thảy thế gian, độ người chưa độ, giải thoát cho người chưa giải thoát,

三寶 種使不斷絕。於 未來世 當轉 法輪
thiệu Tam Bảo chủng sử bất đoạn tuyệt。ư vị lai thế đương chuyển Pháp luân
tiếp nối hạt giống Tam Bảo không để mất hẳn, ở đời vị lai sẽ chuyển bánh xe pháp,

大莊嚴 而自莊嚴。堅持禁戒。皆悉成就如是 功德
dĩ Đại trang nghiêm nhi tự trang nghiêm。kiên trì cấm giới。giai tất thành tựu như thị công đức
dùng đại trang nghiêm để tự trang nghiêm mình, giữ gìn giới cấm một cách kiên trì, tất cả công đức như vậy đều đã thành tựu,

於諸眾生生 大悲心 。平等無 二如 視一子。
ư chư chúng sanh sanh Đại bi tâm。bình đẳng vô nhị như thị nhất tử。
đối với chúng sanh sanh tâm từ bi lớn, xem tất cả bình đẳng giống như con một chẳng phải hai,

亦於晨朝日初出時各相謂言。今日宜應至雙樹間。
diệc ư Thần triêu nhật sơ xuất thời các tướng vị ngôn。kim nhật nghi ứng chí song thụ gian。
cũng vào lúc sáng sớm khi mặt trời vừa mói mọc đều bảo với nhau rằng: Hôm nay phải đến giữa hai cây Sa-la.

優婆夷 所設供具倍勝於前持至佛所。
chư Ưu bà di sở thiết cung cụ bội thắng ư tiền trì chí Phật sở。
Các vị Ưu-bà-di thiết bày đồ cúng dường đầy đủ hơn gấp bội trước mang đến chỗ Phật,

稽首佛足遶百千匝。而白佛言。 世尊
khể thủ Phật túc nhiễu bách thiên tạp。nhi bạch Phật ngôn。 Thế tôn
cúi đầu lễ chân Phật rồi nhiễu quanh trăm ngàn vòng mà bạch Phật rằng: Bạch đức Thế Tôn !

我等今者為佛及僧辦諸供具。唯願 如來 哀受我供。
ngã đẵng kim giả vi Phật cập tăng bạn chư cung cụ。duy nguyện Như-Lai ai thọ ngã cúng。
Hôm nay chúng con vì Phật và Tăng mà bày biện đủ thứ để cúng dường, xin nguyện Như Lai thương xót mà nhận sự cúng dường của con.

如來默然而不許可。諸 優婆夷 不果所願。
Như-Lai mặc nhiên nhi bất hứa khả。chư Ưu bà di bất quả sở nguyện。
Nếu Như Lai im lặng không hứa khả thì các Ưu-bà-di không có kết quả như nguyện,

心懷惆悵却坐一面。
tâm hoài trù trướng khước tọa nhất diện。
tâm hoài buồn bã lui ngồi một bên.

爾時復有四恒河沙毘耶離城諸離車等。
nhĩ thời phục hữu tứ hằng hà sa tì da ly thành chư ly xa đẳng。
Lúc bấy giờ lại có bốn Hằng-hà sa nam nữ lớn nhỏ, vợ con quyến thuộc trong thành Tỳ-xá-ly và các Ly Xa khác,

男女大小妻子眷屬。及 閻浮提 諸王眷屬。
nam nữ Đại tiểu thê tử quyến chúc。cập Diêm-phù-đề chư Vương quyến chúc。
cùng với các vua cõi Diêm-phù-đề và quyến thuộc của vua,

為求法故善修戒行威儀具足。
vi cầu Pháp cố thiện tu giới hành uy nghi cụ túc。
vì muốn cầu pháp nên khéo tu giới hạnh, uy nghi đầy đủ,

摧伏異學壞 正法 者。常相謂言。我等當以金銀倉庫。
tồi phục dị học hoại chánh Pháp giả。thường tướng vị ngôn。ngã đẵng đương dĩ kim ngân thương khố。
diệt hết các loại học khác có thể phá hoại chánh pháp , thường bảo với nhau rằng: Chúng ta phải dùng kho vàng kho bạc,

為令甘露無盡 正法 深奧之藏久住於世。
vi lệnh cam lộ vô tận chánh Pháp thâm áo chi tạng cửu trụ ư thế。
làm cho cam lồ chánh pháp còn đến vô tận, Tạng thâm áo được trụ lâu ở đời,

願令我等常得修學。若有誹謗佛 正法 者當斷其舌。
nguyện lệnh ngã đẵng thường đắc tu học。nhược hữu phỉ báng Phật chánh Pháp giả đương đoạn kỳ thiệt。
nguyện khiến cho chúng con thường được tu học, nếu có phỉ báng chánh pháp ấy thì phải bị cắt lưỡi.

復作是願。若有出家毀禁戒者。
phục tác thị nguyện。nhược hữu xuất gia hủy cấm giới giả。
Lại nguyện như vậy: Nếu có xuất gia mà hủy phạm giới cấm,

我當罷令還俗策使。有能深樂護持 正法
ngã đương bãi lệnh hoàn tục sách sử。hữu năng thâm lạc hộ trì chánh Pháp。
con sẽ bị phạt hoàn tục để sách tấn khiến cho có thể hết sức vui thích hộ trì chánh pháp .

我當敬重如事父母。若有眾僧能修 正法 。我當隨喜令得勢力。
ngã đương kính trọng như sự phụ mẫu。nhược hữu chúng tăng năng tu chánh Pháp。ngã đương tùy hỉ lệnh đắc thế lực。
Con sẽ kính trọng chánh pháp như sự kính trọng cha mẹ. Nếu có chúng Tăng hay tu chánh pháp, con sẽ tùy hỷ giúp cho vị ấy có được thế lực,

常欲樂聞 大乘經 典。聞已亦能為人廣說。
thường dục lạc văn Đại thừa Kinh điển。văn dĩ diệc năng vi nhân quảng thuyết。
thường ưa thích nghe kinh điển Đại thừa , nghe rồi cũng có thể vì người khác mà rộng nói,

皆悉成就如是 功德 。其名曰淨無垢藏離車子。
giai tất thành tựu như thị công đức 。kỳ danh viết tịnh vô cấu tạng Ly-xa-tử。
tất cả công đức như vậy đều đã thành tựu. Tên của các vị ấy là Nhật Tịnh Vô Cấu Tạng Ly-xa-tử,

不放逸 離車子。恒水無垢淨德離車子。
tịnh bất phóng dật Ly-xa-tử。hằng thủy vô cấu tịnh đức Ly-xa-tử。
Tịnh Bất Phóng Dật Ly-xa-tử, Hằng Thuỷ Vô Cấu Tịnh Đức Ly-xa-tử.

如是等各相謂言。仁等。今可速往佛所。
như thị đẳng các tướng vị ngôn。nhân đẳng。kim khả tốc vãng Phật sở。
Các vị như vậy đều bảo với nhau rằng: Các vị, nay phải nhanh đến chỗ Phật

所辦供養種種具足。一一離車各嚴八萬四千大象。
sở bạn cúng dường chủng chủng cụ túc。nhất nhất ly xa các nghiêm bát vạn tứ thiên Đại tượng。
bày biện đủ loại cúng dường. Mỗi mỗi Ly Xa đều trang bị tám vạn bốn ngàn con voi lớn,

八萬四千駟馬寶車。八萬四千明月寶珠。
bát vạn tứ thiên tứ mã bảo xa。bát vạn tứ thiên minh nguyệt bảo châu。
tám vạn bốn ngàn cỗ xe ngựa báu, tám vạn bốn ngàn Minh nguyệt bảo châu,

天木栴檀沈水薪束。種種各有八萬四千。
Thiên mộc chiên đàn trầm thủy tân thúc。chủng chủng các hữu bát vạn tứ thiên。
thiên mộc, chiên đàn, trầm thủy buộc lại như củi, mỗi loại đều có tám vạn bốn ngàn.

一一象前有寶幢幡蓋。
nhất nhất tượng tiền hữu bảo tràng phiên cái。
Trước mỗi con voi có tràng phan lọng báu.

其蓋小者周匝縱廣滿一 由旬 。幡最短者長三十二由旬。
kỳ cái tiểu giả châu tạp túng quảng mãn nhất do-tuần 。phiên tối đoản giả trường tam thập nhị do-tuần。
Lọng ấy cái nhỏ nhất căng ra giáp vòng đầy một do tuần. Phan ngắn nhất là dài ba mươi hai do tuần.

寶幢卑者高百 由旬 。持如是等供養之具。往至佛所。
bảo tràng ti giả cao bách do-tuần 。trì như thị đẳng cung dưỡng chi cụ。vãng chí Phật sở。
tràng báu thấp nhất là cao một trăm do tuần, mang đầy đủ các loại cúng dường như vậy đi đến chỗ Phật,

稽首佛足遶百千匝。而白佛言。 世尊
khể thủ Phật túc nhiễu bách thiên tạp。nhi bạch Phật ngôn。 Thế tôn
cúi đầu lễ chân Phật ròi nhiễu quanh trăm ngàn vòng mà bạch Phật rằng: Bạch đức Thế Tôn !

我等今者為佛及僧辦諸供具。唯願 如來 哀受我供。
ngã đẵng kim giả vi Phật cập Tăng bạn chư cung cụ。duy nguyện Như Lai ai thọ ngã cúng。
Chúng con nay vì Phật và chúng Tăng mà bày biện đủ thứ cúng dường, xin Như Lai thương xót mà nhận sự cúng dường của con.

如來默然而不許可。
Như-Lai mặc nhiên nhi bất hứa khả。
Như Lai im lặng mà không hứa khả

諸離車等不果所願心懷愁惱。以佛神力去地七 多羅樹
chư ly xa đẳng bất quả sở nguyện tâm hoài sầu não。dĩ Phật Thần lực khứ địa thất đa-la thụ。
thì các Ly Xa không được kết quả như ý nguyện, tâm hoài sầu não, do thần lực của Phật mà đi cách mặt đất bảy cây Đa-la,

於虛空中默然而住。爾時復有五恒河沙大臣長者。
ư hư không trung mặc nhiên nhi trụ。nhĩ thời phục hữu ngũ hằng hà sa Đại Thần Trưởng-Giả。
ở giữa hư không im lặng mà đứng như vậy. Lúc bấy giờ lại có năm hằng-hà-sa Đại thần, Trưởng giả

敬重 大乘 。若有異學謗 正法 者。是諸人等力能摧伏。
kính trọng Đại thừa 。nhược hữu dị học báng chánh Pháp giả。thị chư nhân đẳng lực năng tồi phục。
kính trọng Đại thừa . Nếu có người dị học phỉ báng chánh pháp thì sức của những người ấy có thể bẻ gẫy

猶如雹雨摧折草木。其名曰日光長者。
do như bạc vũ tồi chiết thảo mộc。kỳ danh viết nhật quang Trưởng-Giả。
giống như mưa đá bẻ gẫy cây cỏ. Tên của các vị ấy là Nhật Quang Trưởng giả,

護世長者。護法長者。如是之等而為上首。
hộ thế Trưởng-Giả。hộ Pháp Trưởng-Giả。như thị chi đẳng nhi vi thượng thủ。
Hộ Thế Trưởng giả, Hộ Pháp Trưởng giả, các vị Trưởng giả như vậy đều là những bậc thượng thủ,

所設供具五倍於前。俱共往詣娑羅雙樹間。
sở thiết cung cụ ngũ bội ư tiền。câu cộng vãng nghệ sa-la song thụ gian。
thiết bày đầy đủ đồ cúng dường nhiều gấp năm lần trước, đều cùng nhau đi đến giữa hai cây Sa-la,

稽首佛足遶百千匝。而白佛言。 世尊
kê thủ Phật túc nhiễu bách thiên tạp。nhi bạch Phật ngôn。 Thế tôn
cúi đầu lễ chân Phật rồi nhiễu quanh trăm ngàn vòng mà bạch Phật rằng: Bạch đức Thế Tôn !

我等今者為佛及僧設諸供具。唯願哀愍受我等供。
ngã đẵng kim giả vi Phật cập tăng thiết chư cung cụ。duy nguyện ai mẩn thọ ngã đẵng cung。
Hôm nay chúng con vì Phật và Tăng mà thiết bày đầy đủ đồ cúng dường, xin nguyện Như Lai thương xót nhận sự cúng dường của chúng con.

如來默然而不受之。
Như-Lai mặc nhiên nhi bất thọ chi。
Như Lai im lặng như vậy mà không nhận,

諸長者等不果所願心懷愁惱。以佛神力去地七 多羅樹
chư Trưởng-Giả đẳng bất quả sở nguyện tâm hoài sầu não。dĩ Phật Thần lực khứ địa thất đa-la thụ。
các vị Trưởng giả ấy không được kết quả như ý nguyện, tâm hoài sầu não, do thần lực của Phật mà đi cách mặt đất bảy cây Đa-la

於虛空中默然而住。
ư hư không trung mặc nhiên nhi trụ。
ở giữa hư không im lặng mà đứng như vậy.

爾時復有(應有六恒河沙) 毘舍離 王。
nhĩ thời phục hữu (ứng hữu lục hằng hà sa )Tì-xá ly Vương。
Lúc bấy giờ lại có (ứng hiện sáu Hằng hà sa) vua Tỳ-xá-ly

及其後宮夫人眷屬。 閻浮提 內所有諸王。
cập kỳ hậu cung phu nhân quyến chúc。 Diêm-phù-đề nội sở hữu chư Vương。
và hậu cung của vua gồm phu nhân và quyến thuộc, các vua khác trong Diêm-phù-đề ,

阿闍世 并及城邑聚落人民。其名曰月無垢王等。
trừ A-xà-thế tinh cập thành ấp tụ lạc nhân dân。kỳ danh viết Nguyệt Vô Cấu Vương đẳng。
trừ ra vua A-xà-thế và thành ấp, xóm làng, nhân dân của vua. Tên của các vị ấy là vua Nhật Nguyệt Vô Cấu v.v..

各嚴四兵欲往佛所。
các nghiêm tứ binh dục vãng Phật sở。
đều mang theo bốn loại binh lính muốn đến chỗ Phật.

是一一王各有一百八十萬億人民眷屬。是諸車兵駕以象馬。
thị nhất nhất Vương các hữu nhất bách bát thập vạn ức nhân dân quyến chúc。thị chư xa binh giá dĩ tượng mã。
Mỗi mỗi vị vua đều có một trăm tám mươi vạn ức nhân dân và quyến thuộc. Các xe binh lính đóng ngựa và voi vào xe.

象有六牙馬疾如風。莊嚴供具六倍於前。
tượng hữu lục nha mã tật như phong。trang nghiêm cung cụ lục bội ư tiền。
Voi có sáu ngà, ngựa thì nhanh như gió, trang nghiêm đồ cúng dường đầy đủ nhiều gấp sáu lần trước.

寶蓋之中有極小者。周匝縱廣滿八 由旬 。幡極短者十六由旬。
bảo cái chi trung hữu cực tiểu giả。châu tạp túng quảng mãn bát do-tuần 。phiên cực đoản giả thập lục do-tuần。
Bên trong lọng báu cái nhỏ nhất, nếu bung ra chu vi rộng đầy tám do tuần. Phan ngắn nhất là mười sáu do tuần.

寶幢卑者三十六 由旬
bảo tràng ti giả tam thập lục do-tuần
Phan báu thấp nhất là ba mươi sáu do tuần.

是諸王等皆悉安住於 正法 中惡賤邪法。敬重 大乘 深樂大乘。
thị chư Vương đẳng giai tất an trú ư chánh Pháp trung ác tiện tà Pháp。kính trọng Đại thừa thâm lạc Đại thừa。
Tất cả các vua đó đều đã an trú ở trong chánh pháp , ghét bỏ tà pháp, kính trọng Đại thừa , rất ham thích Đại thừa,

憐愍眾生等如一子。
liên mẫn chúng sanh đẳng như nhất tử。
thương yêu chúng sanh bình đẳng như con một,

所持飲食香氣流布滿四 由旬 。亦於晨朝日初出時。
sở trì ẩm thực hương khí lưu bố mãn tứ do-tuần 。diệc ư Thần triêu nhật sơ xuất thời。
mang theo thức ăn vật uống, hương khí đi dàn ra đầy bốn do tuần, cũng vào lúc sáng sớm khi mặt trời vừa mới mọc,

持是種種上妙甘饍。詣雙樹間至 如來 所。而白佛言。 世尊
trì thị chủng chủng thượng diệu cam thiện。nghệ song thụ gian chí Như-Lai sở。nhi bạch Phật ngôn。 Thế tôn
mang đủ thứ hảo hạng ngọt ngon, đến chỗ Như Lai giữa hai cây Sa-la mà bạch Phật rằng: Bạch đức Thế Tôn !

我等為佛及 比丘 僧設是供具。唯願 如來
ngã đẵng vi Phật cập Tỳ-kheo tăng thiết thị cung cụ。duy nguyện Như-Lai
Chúng con vì Phật và Tỳ-kheo Tăng thiết đầy đủ đồ cúng dường, xin nguyện Như Lai

哀愍受我最後供養。 如來 知時亦不許可。
ai mẩn thọ ngã tối hậu cung dưỡng。 Như-Lai tri thời diệc bất hứa khả。
thương xót mà nhận sự cúng dường của chúng con lần sau cùng. Khi biết Như Lai cũng không hứa khả,

是諸王等不果所願。心懷愁惱却住一面。
thị chư Vương đẳng bất quả sở nguyện。tâm hoài sầu não khước trụ nhất diện。
thì các đức vua ấy không được kết quả như ý nguyện, tâm hoài sầu não, đứng lùi về một bên.

爾時復有七恒河沙諸王夫人。
nhĩ thời phục hữu thất hằng hà sa chư Vương phu nhân。
Lúc bấy giờ có bảy hằng hà sa các vị Phu nhân của vua,

唯除 阿闍世 王夫人。為度眾生現受女身常觀身行。
duy trừ A đồ thế Vương phu nhân。vi độ chúng sanh hiện thọ nữ thân thường quán thân hành。
chỉ trừ ra Phu nhân của Vua A-xà-thế . Các vị Phu nhân ấy vì muốn độ chúng sanh nên thị hiện thọ thân nữ, thường quán thân hành,

空無 相無願之法薰修其心。
không vô tướng vô nguyện chi Pháp huân tu kỳ tâm。
dùng pháp Không, Vô tướng, Vô nguyện để huân tu tâm.

其名曰三界妙夫人。愛德夫人。如是等諸王夫人。
kỳ danh viết tam giới diệu phu nhân。ái đức phu nhân。như thị đẳng chư Vương phu nhân。
Tên của các vị ấy là Tam Giới Phu nhân, Ái Đức Phu nhân, tất cả các vị Phu nhân của Vua như vậy

皆悉安住於 正法 中。修行禁戒威儀具足。
giai tất an trú ư chánh Pháp trung。tu hành cấm giới uy nghi cụ túc。
đều an trụ ở trong chánh pháp , tu hành cấm giới, uy nghi đầy đủ,

憐愍眾生等如一子。各相謂言。今宜速往詣 世尊 所。
liên mẫn chúng sanh đẳng như nhất tử。các tướng vị ngôn。kim nghi tốc vãng nghệ Thế tôn sở。
thương yêu chúng sanh giống như con một, đều nói với nhau rằng: Nay chúng ta phải nhanh đến chỗ Thế Tôn .

諸王夫人所設供養七倍於前。
chư Vương phu nhân sở thiết cung dưỡng thất bội ư tiền。
Các Phu nhân của Vua bày biện đồ cúng dường nhiều gấp bảy lần ở trước,

香花寶幢繒綵幡蓋上妙飲食。
hương hoa bảo tràng tăng thải phiên cái thượng diệu ẩm thực。
như hương hoa, tràng báu, lụa dày, lọng, thức ăn vật uống thượng diệu.

寶蓋小者周匝縱廣十六 由旬 。幡最短者三十六由旬。
bảo cái tiểu giả châu tạp túng quảng thập lục do-tuần 。phiên tối đoản giả tam thập lục do-tuần。
Lọng báu nhỏ ấy nếu bung ra chu vi rộng mười sáu do tuần. Phan ngắn nhất là ba mươi sáu do tuần.

寶幢卑者六十八 由旬 。飲食香氣周遍流布滿八由旬。
bảo tràng ti giả lục thập bát do-tuần 。ẩm thực hương khí châu biến lưu bố mãn bát do-tuần。
Tràng báu ấy thấp là sáu mươi tám do tuần. Thức ăn vật uống trải đầy khắp tám do tuần,

持如是等供養之具。往 如來 所稽首佛足遶百千匝。
trì như thị đẳng cung dưỡng chi cụ。vãng Như-Lai sở kê thủ Phật túc nhiễu bách thiên tạp。
mang đầy đủ đồ cúng dường như vậy đến chỗ Như Lai cúi đầu lễ chân Phật, nhiễu quanh trăm ngàn vòng

而白佛言。 世尊
nhi bạch Phật ngôn。 Thế tôn
mà bạch Phật rằng: Bạch đức Thế Tôn !

我等為佛及 比丘 僧設是供具。唯願 如來 。哀愍受我最後供養。
ngã đẵng vi Phật cập Tỳ-kheo Tăng thiết thị cung cụ。duy nguyện Như-Lai 。ai mẫn thọ ngã tối hậu cung dưỡng。
Chúng con vì Phật và Tỳ-kheo Tăng thiết đủ đồ cúng dường, xin nguyện Như Lai từ bi thương xót mà nhận sự cúng dường sau cùng của con.

如來知時默然不受。時諸夫人不果所願心懷愁惱。
Như-Lai tri thời mặc nhiên bất thọ。thời chư phu nhân bất quả sở nguyện tâm hoài sầu não。
Khi Như Lai im lặng như vậy là biết không nhận, khi ấy các vị Phu nhân không có kết quả như ý nguyện thì tâm luôn sầu não,

自拔頭髮搥胸大哭。猶如新喪所愛之子。
tự bạt đầu phát trùy hung Đại khốc。do như tân tang sở ái chi tử。
tự đánh vào đầu, vào ngực mà khóc lớn giống như thương con mới chết,

却在一面默然而住。
khước tại nhất diện mặc nhiên nhi trụ。
rồi lùi về một bên im lặng như vậy mà đứng.

爾時復有八恒河沙諸天女等。
nhĩ thời phục hữu bát hằng hà sa chư Thiên nữ đẳng。
Lúc bấy giờ lại có tám Hằng hà sa các vị Thiên nữ,

其名曰廣目天女。而為上首。作如是言。汝等諸姊。
kỳ danh viết quảng mục Thiên nữ。nhi vi thượng thủ。tác như thị ngôn。nhữ đẳng chư tỉ。
tên của các vị ấy là Quảng Mục Thiên nữ v.v.. mà làm thượng thủ, nói lời như vậy: Này các chị,

諦觀諦觀。是諸人眾所設種種上妙供具。
đế quán đế quán。thị chư nhân chúng sở thiết chủng chủng thượng diệu cung cụ。
hãy nhìn xem, nhìn xem loài người đang sắp bày đủ loại đồ cúng dường thượng diệu,

欲供 如來比丘 僧。
dục cung Như-Lai cập Tỳ-kheo tăng。
muốn cúng dường Như Lai và Tỳ-kheo Tăng.

我等亦當如是嚴設微妙供具供養 如來 。如來受已當 入涅槃 。諸姊。
ngã đẵng diệc đương như thị nghiêm thiết vi diệu cung cụ cung dưỡng Như-Lai 。Như-Lai thọ dĩ đương nhập Niết-Bàn 。chư tỉ。
Chúng ta cũng phải như vậy mà trang bị đầy đủ những thứ vi diệu để cúng dường Như Lai . Như Lai thọ rồi sẽ vào Niết-bàn . Các chị!

諸佛 如來 出世甚難。最後供養亦復倍難。
chư Phật như lai xuất thế thậm nan。tối hậu cung dưỡng diệc phục bội nan。
Chư Phật Như Lai xuất hiện ở đời rất khó, cúng dường lần sau cùng lại càng khó gấp bội.

若佛 涅槃 世間空虛。
nhược Phật Niết-Bàn thế gian không hư。
Nếu Phật mà Niết-bàn thì thế gian trống rỗng.

是諸天女愛樂 大乘 欲聞大乘。聞已亦能為人廣說。
thị chư Thiên nữ ái lạc Đại thừa dục văn Đại thừa。văn dĩ diệc năng vi nhân quảng thuyết。
Các vị Thiên nữ ấy yêu thích Đại thừa , muốn nghe Đại thừa, nghe rồi có thể vì người khác mà rộng nói,

渴仰 大乘 既自充足。復能充足餘渴仰者。守護大乘。
khát ngưỡng Đại thừa ký tự sung túc。phục năng sung túc dư khát ngưỡng giả。thủ hộ Đại thừa。
chỗ kính ngưỡng Đại thừa đã tự đầy đủ, ngoài sự kính ngưỡng đầy đủ rồi lại còn có thể giữ gìn Đại thừa.

若有異學憎嫉 大乘 。勢能摧滅如雹摧草。
nhược hữu dị học tăng tật Đại thừa 。thế năng tồi diệt như bạc tồi thảo。
Nếu có chúng dị học ghen ghét với Đại thừa , thế có thể diệt hết như mưa đá bẻ gẫy cỏ,

護持戒行威儀具足。善能隨順一切世間。
hộ trì giới hạnh, uy nghi đầy đủ, khéo hay tùy thuận tất cả thế gian,
hộ trì giới hạnh, uy nghi đầy đủ, khéo hay tùy thuận tất cả thế gian,

度未度者脫未脫者。於 未來世 當轉 法輪
độ vị độ giả thoát vị thoát giả。ư vị lai thế đương chuyển Pháp luân
độ người chưa được độ, giải thoát người chưa được giải thoát, sẽ chuyển bánh xe pháp trong đời vị lai,

三寶 種使不斷絕。修學 大乘 。以 大莊嚴 而自莊嚴。
thiệu Tam Bảo chủng sử bất đoạn tuyệt。tu học Đại thừa 。dĩ Đại trang nghiêm nhi tự trang nghiêm。
nối tiếp hạt giống Tam Bảo khiến cho không bị mất hẳn, tu học Đại thừa , dùng đại trang nghiêm để tự trang nghiêm,

成就如是無量 功德 。等慈眾生如視一子。
thành tựu như thị vô lượng công đức 。đẳng từ chúng sanh như thị nhất tử。
bình đẳng thương chúng sanh giống như con một, vô lượng công đức như vậy đều đã được thành tựu,

亦於晨朝日初出時。各取種種天木香等。
diệc ư Thần triêu nhật sơ xuất thời。các thủ chủng chủng Thiên mộc hương đẳng。
cũng vào lúc sáng sớm khi mặt trời vừa mới mọc, đều cầm các loại mộc hương trời v.v..

倍於人間所有香木。其木香氣能滅人中種種臭穢。
bội ư nhân gian sở hữu hương mộc。kỳ mộc hương khí năng diệt nhân trung chủng chủng xú uế。
nhiều gấp bội mộc hương mà loài người có. Hơi của mộc hương ấy có thể diệt hết các loại nhơ uế trong con người.

白車白蓋駕四白馬。一一車上皆張白帳。
bạch xa bạch cái giá tứ bạch mã。nhất nhất xa thượng giai trương bạch trướng。
Xe trắng, lọng trắng, đóng vào xe bốn ngựa trắng. Trên mỗi mỗi xe đều có căng trướng trắng.

其帳四邊懸諸金鈴種種香花寶幢幡蓋。
kỳ trướng tứ biên huyền chư kim linh chủng chủng hương hoa bảo tràng phiên cái。
Trướng ấy bốn bên treo các chuông vàng và các loại hương hoa, tràng, phan, lọng báu

上妙甘饍種種伎樂敷師子座。其座四足純紺琉璃。
thượng diệu cam thiện chủng chủng kĩ nhạc phu Sư-tử tọa。kỳ tọa tứ túc thuần cám lưu ly
thượng diệu ngọt ngon, các loại kỹ nhạc, tòa sư tử. Bốn chân của tòa ấy thuần bằng lưu ly xanh biếc.

於其座後各各皆有 七寶 倚床。
ư kỳ tọa hậu các các giai hữu thất bảo ỷ sàng。
Ở sau mỗi mỗi tòa đều có giường dựa bảy báu

一一座前復有金机。復以 七寶 而為燈樹。
nhất nhất tọa tiền phục hữu kim ngột。phục dĩ thất bảo nhi vi đăng thụ。
Trước mỗi mỗi tòa ngồi lại có ghế nhỏ bằng vàng, lại dùng bảy báu làm đèn cây,

種種寶珠以為燈明。微妙天花遍布其地。
chủng chủng bảo châu dĩ vi đăng minh。vi diệu Thiên hoa biến bố kỳ địa。
các loại ngọc ngà châu báu dùng làm đèn sáng, hoa trời vi diệu trải khắp trên đất ấy.

是諸天女設是供已。心懷哀感涕淚交流生大苦惱。
thị chư Thiên nữ thiết thị cung dĩ。tâm hoài ai cảm thế lệ giao lưu sanh Đại khổ não。
các vị Thiên nữ ấy thiết bày đồ cúng dường như vậy xong, tâm hoài cảm động nước mắt chảy ràng rụa hết sức khổ não,

亦為利益安樂眾生。成就 大乘 第一空行。
diệc vi lợi ích an lạc chúng sanh。thành tựu Đại thừa đệ nhất không hành。
cũng vì lợi ích an lạc cho chúng sanh thành tựu đệ nhất về việc thực hành pháp Không của Đại thừa ,

顯發 如來 方便 密教 。亦為不斷種種說法。
hiển phát Như-Lai phương tiện Mật Giáo。diệc vi bất đoạn chủng chủng thuyết Pháp。
hiển bày rõ phương tiện Mật giáo của Như Lai , cũng vì không muốn mất hẳn các loại thuyết pháp,

往詣佛所稽首佛足遶百千匝。而白佛言。 世尊
vãng nghệ Phật sở kê thủ Phật túc nhiễu bách thiên tạp。nhi bạch Phật ngôn。 Thế tôn
đi đến chỗ Phật cúi đầu lễ chân Phật rồi nhiễu quanh trăm ngàn vòng mà bạch Phật rằng: Bạch đức Thế Tôn !

唯願 如來 。哀受我等最後供養。
duy nguyện Như-Lai 。ai thọ ngã đẵng tối hậu cung dưỡng。
Xin nguyện Như Lai thương xót mà nhận sự cúng dường sau cùng của chúng con.

如來知時默然不受。諸天女等不果所願心懷憂惱。
Như-Lai tri thời mặc nhiên bất thọ。chư Thiên nữ đẳng bất quả sở nguyện tâm hoài ưu não。
Khi Như Lai im lặng, như vậy là biết không nhận, các vị Thiên nữ không có kết quả như ý nguyện, tâm hoài sầu não

却在一面默然而坐。
khước tại nhất diện mặc nhiên nhi tọa。
lùi về một bên im lặng như vậy mà ngồi.

爾時復有九恒河沙諸 龍王 等住於四方。
Nhĩ thời phục hữu cửu hằng hà sa chư long Vương đẳng trụ ư tứ phương。
Lúc bấy giờ lại có chín hằng hà sa các vị Long vương ở trong bốn phương.

其名曰和修吉 龍王難陀 龍王。婆難陀龍王。
kỳ danh viết hòa tu cát long Vương 。Nan đà long Vương。bà Nan đà long Vương。
Tên của các vị ấy là Hòa-tu-cát Long Vương , Nan-đà Long Vương, Bà-nan-đà Long Vương,

而為上首。是諸 龍王 亦於晨朝日初出時。
nhi vi thượng thủ。thị chư long Vương diệc ư Thần triêu nhật sơ xuất thời。
mà các vị như vậy làm thượng thủ. Các Long Vương đó cũng vào lúc sáng sớm khi mặt trời vừa mới mọc,

設諸供具倍於人天。
thiết chư cung cụ bội ư nhân Thiên。
thiết bày đủ loại đồ cúng dương nhiều gấp bội người trời

持至佛所稽首佛足遶百千匝。而白佛言。唯願 如來
trì chí Phật sở kê thủ Phật túc nhiễu bách thiên tạp。nhi bạch Phật ngôn。duy nguyện Như-Lai
mang đến chỗ Phật cúi đầu lễ chân Phật rồi nhiễu quanh trăm ngàn vòng mà bạch Phật rằng: Xin nguyện Như Lai

哀受我等最後供養。 如來 知時默然不受。
ai thọ ngã đẵng tối hậu cung dưỡng。 Như-Lai tri thời mặc nhiên bất thọ。
thương xót mà nhận sự cúng dường sau cùng của chúng con. Khi Như Lai im lặng, như vậy biết rằng không nhận.

是諸 龍王 不果所願。心懷愁惱却坐一面。
thị chư long Vương bất quả sở nguyện。tâm hoài sầu não khước tọa nhất diện。
Khi ấy, các vị Long Vương không được kết quả như ý nguyện, tâm hoài sầu não lùi qua một bên mà ngồi.

爾時復有十恒河沙諸鬼神王。
nhĩ thời phục hữu thập hằng hà sa chư quỷ Thần Vương。
Lúc bấy giờ lại có mười hằng hà sa các vua Quỷ Thần mà

沙門 王而為上首。各相謂言。仁等。
tì Sa-môn Vương nhi vi thượng thủ。các tướng vị ngôn。nhân đẳng。
vua Tỳ Sa-môn làm thượng thủ. Các vị như vậy đều nói với nhau rằng: Các vị,

今者可速詣佛所。設供具倍於諸龍。
kim giả khả tốc nghệ Phật sở。thiết cung cụ bội ư chư long。
nay có thể đến chỗ Phật thiết bày đủ đồ cúng dường nhiều gấp bội các vị Rồng,

持往佛所稽首佛足遶百千匝。而白佛言。唯願 如來
trì vãng Phật sở kê thủ Phật túc nhiễu bách thiên tạp。nhi bạch Phật ngôn。duy nguyện Như-Lai
mang đến chỗ Phật cúi đầu lễ chân Phật rồi nhiễu quanh trăm ngàn vòng mà bạch Phật rằng: Xin nguyện Như Lai

哀受我等最後供養。 如來 知時默然不許。
ai thọ ngã đẵng tối hậu cung dưỡng。 Như-Lai tri thời mặc nhiên bất hứa。
thương xót nhận sự cúng dường sau cùng của chúng con. Khi Như Lai im lặng, như vậy biết không nhận.

是諸鬼王不果所願。心懷愁惱却坐一面。
thị chư quỷ Vương bất quả sở nguyện。tâm hoài sầu não khước tọa nhất diện。
Khi các vua quỷ thần đó không được kết quả như ý nguyện thì tâm hoài sầu não lùi về một bên mà ngồi.

爾時復有二十恒河沙金翅鳥王。
nhĩ thời phục hữu nhị thập hằng hà sa kim sí điểu Vương。
Lúc bấy giờ lại có hai mươi hằng hà sa vua chim Kim sí mà

降怨鳥王而為上首。復有三十恒河沙 乾闥婆王
hàng oán điểu Vương nhi vi thượng thủ。phục hữu tam thập hằng hà sa Kiền thát bà Vương。
vua chim Hàng Oán làm thượng thủ. Lại có ba mươi hằng hà sa vua Càn-thát-bà mà vua

那羅達王而為上首。復有四十恒河沙 緊那羅 王。
na la đạt Vương nhi vi thượng thủ。phục hữu tứ thập hằng hà sa khẩn na la Vương。
Na-la-đạt làm thượng thủ. Lại có bốn hằng hà sa vua Khẩn-na-la

善見王而為上首。
thiện kiến Vương nhi vi thượng thủ。
vua Thiện Kiến làm thượng thủ.

復有五十恒河沙 摩睺羅伽 王。大善見王而為上首。
phục hữu ngũ thập hằng hà sa Ma hầu la dà Vương。Đại thiện kiến Vương nhi vi thượng thủ。
Lại có năm mươi hằng hà sa mà vua Ma-hầu-la-già , vua Đại Thiện Kiến làm thượng thủ.

復有六十恒河沙阿修羅王。睒婆利王而為上首。
phục hữu lục thập hằng hà sa A-tu-La Vương。 đàm bà lợi Vương nhi vi thượng thủ。
Lại có sáu mươi hằng hà sa vua A-tu-la mà vua Đàm-bà-lợi làm thượng thủ.

復有七十恒河沙 陀那婆 王。無垢河水王。
phục hữu thất thập hằng hà sa đà na bà Vương。vô cấu hà thủy Vương。
Lại có bảy hằng hà sa vua Đà-na-bà mà vua Vô Cấu Hà Thủy,

跋提 達多 王等。而為上首。復有八十恒河沙 羅剎 王。
Bạt đề đạt đa Vương đẳng。nhi vi thượng thủ。phục hữu bát thập hằng hà sa La sát Vương。
Vua Bạt-đề-đạt-đa làm thượng thủ. Lại có tám mươi hằng hà sa vua La-sát

可畏王而為上首。捨離惡心更不食人。
khả úy Vương nhi vi thượng thủ。xả ly ác tâm canh bất thực nhân。
vua Khả Uý làm thượng thủ. Các vị la sát đó xa lìa tâm ác không còn ăn người nữa,

於怨憎中生慈悲心。其形醜陋。以佛神力皆悉瑞正。
ư oán tăng trung sanh từ bi tâm。kỳ hình xú lậu。dĩ Phật Thần lực giai tất thụy chánh。
ở trong oán ghét mà sanh tâm từ bi. Hình thù của họ xấu xí nhưng do thần lực của Phật nên tất cả đều được đoan chánh.

復有九十恒河沙樹林神王。
phục hữu cửu thập hằng hà sa thụ lâm Thần Vương。
Lại có chín mươi vua Thần rừng cây

樂香王而為上首。復有千恒河沙持呪王。
lạc hương Vương nhi vi thượng thủ。phục hữu thiên hằng hà sa trì chú Vương。
mà vua Lạc Hương làm thượng thủ. Lại có ngàn hằng hà sa vua Trì chú mà

大幻持呪王而為上首。復有一億恒河沙貪色鬼魅。
Đại huyễn trì chú Vương nhi vi thượng thủ。phục hữu nhất ức hằng hà sa tham sắc quỷ mị。
Vua Đại Huyễn Trì Chú làm thượng thủ. Lại có một ức hằng hà sa quỷ mị tham sắc mà

善見王而為上首。復有百億恒河沙天諸娙女。
thiện kiến Vương nhi vi thượng thủ。phục hữu bách ức hằng hà sa Thiên chư hình nữ。
vua Thiện Kiến làm thượng thủ. Lại có trăm ức hằng hà sa Thiên nữ mà

藍婆女。欝婆尸女。帝路沾女。 毘舍佉 女。
Lam bà nữ。uất bà thi nữ。đế lộ triêm nữ。Tì xá khư nữ。
Lam-bà nữ, Uất-bà-thi nữ, Đế-lộ-triêm nữ, Tỳ-xá-khư nữ

而為上首。復有千億恒河沙地諸鬼王。
nhi vi thượng thủ。phục hữu thiên ức hằng hà sa địa chư quỷ Vương。
làm thượng thủ. Lại có ngàn ức hằng hà sa vua quỷ ở đất mà

白濕王而為上首。
bạch thấp Vương nhi vi thượng thủ。
vua Bạch Thấp làm thượng thủ.

復有十萬億恒河沙等諸 天子 及諸 天王 四天王 等。
phục hữu thập vạn ức hằng hà sa đẳng chư Thiên tử cập chư Thiên Vương tứ Thiên Vương đẳng。
Lại có mười vạn ức hằng hà sa và nhiều hơn nữa các Thiên tử và vua Trời Tứ Thiên Vương v.v..

復有十萬億恒河沙等四方風神。吹諸樹上時非時花散雙樹間。
phục hữu thập vạn ức hằng hà sa đẳng tứ phương phong Thần。xuy chư thụ thượng thời phi thời hoa tán song thụ gian。
Lại có mười vạn ức hằng hà sa và nhiều hơn nữa Thần gió bốn phương, thổi vào cây đúng thời hay không đúng thời hoa cũng rải giữa hai cây Sa-la.

復有十萬億恒河沙主雲雨神。皆作是念。
phục hữu thập vạn ức hằng hà sa chủ vân vũ Thần。giai tác thị niệm。
Lại có mười vạn ức hằng hà sa chủ Thần mây mưa đều nghĩ như vậy:

如來 涅槃 焚身之時。我當注雨令火時滅。
Như-Lai Niết-Bàn phần thân chi thời。ngã đương chú vũ lệnh hỏa thời diệt。
Khi Như Lai Niết-bàn mà thiêu thân, khi ấy, chúng ta sẽ rót nước mưa xuống cho lửa tắt

眾中熱悶為作清涼。復有二十恒河沙大香象王。
chúng trung nhiệt muộn vi tác thanh lương。phục hữu nhị thập hằng hà sa Đại hương Tượng Vương。
làm cho sự nóng bức ấy trở thành mát mẻ. Lại có hai mươi hằng hà sa Đại Hương Tượng vương mà

羅睺象王。金色象王。甘味象王。紺眼象王。
la hầu Tượng Vương。kim sắc Tượng Vương。cam vị Tượng Vương。cám nhãn Tượng Vương。
La Hầu Tượng vương, Kim Sắc Tượng Vương, Cam Lộ tượng Vương, Cám Nhãn Tượng vương,

欲香象王等。而為上首。敬重 大乘 愛樂大乘。
dục hương Tượng Vương đẳng。nhi vi thượng thủ。kính trọng Đại thừa ái lạc Đại thừa。
Dục Hương Tượng Vương làm thượng thủ, kính trọng Đại thừa , yêu thích Đại thừa,

知佛不久當 般涅槃
tri Phật bất cửu đương bát Niết-Bàn
biết Phật không bao lâu nữa sẽ vào Niết-bàn

各各拔取無量無邊諸妙 蓮花 。來至佛所頭面禮佛却住一面。
các các bạt thủ vô lượng vô biên chư diệu liên hoa 。lai chí Phật sở đầu diện lễ Phật khước trụ nhất diện。
nên mỗi mỗi mang theo vô lượng vô biên các loại hoa sen đẹp, đến chỗ Phật đầu mặt lễ Phật rồi đứng lùi qua một bên.

復有二十恒河沙等師子獸王。 師子吼 王而為上首。
phục hữu nhị thập hằng hà sa đẳng Sư-tử thú Vương。Sư-tử hống Vương nhi vi thượng thủ。
Lại có hai mươi hằng hà sa và nhiều hơn nữa vua thú Sư tử mà Sư Tử Hống làm thượng thủ,

施與一切眾生無畏。持諸花菓來至佛所。
thí dữ nhất thiết chúng sanh vô úy。trì chư hoa quả lai chí Phật sở。
bố thí cho tất cả chúng sanh sự vô uý, mang nhiều loại hoa quả đi đến chỗ Phật

稽首佛足却住一面。
khể thủ Phật túc khước trụ nhất diện。
cúi đầu lễ chân Phật rồi đứng lùi về một bên.

復有二十恒河沙等諸飛鳥王。鳧鴈鴛鴦 孔雀 諸鳥。 乾闥婆 鳥。 迦蘭陀 鳥。
phục hữu nhị thập hằng hà sa đẳng chư phi điểu Vương。phù nhạn uyên ương Khổng-tước chư điểu。Càn thát bà điểu。ca lan đà điểu。
Lại có hai mươi hằng hà sa và nhiều hơn nữa các vua loài chim bay như chim le le, nhạn, Uyên ương, khổng tước, chim Càn-thát-bà , chim Ca-lan-đà ,

鴝鵒鸚鵡。俱翅羅鳥。婆嘻伽鳥。
cù dục anh vũ。câu sí la điểu。bà hi già điểu。
chim Sáo, Anh vũ, chim Câu-si-la, chim Bà-hi-già,

迦陵頻伽鳥。 耆婆耆婆 鳥。
Ca-lăng-tần-già điểu。 kì bà kì bà điểu。
chim Ca-lăng-tần-già , chim Kỳ-bà-kỳ-bà,

如是等諸鳥持諸花菓來至佛所。稽首佛足却住一面。
như thị đẳng chư điểu trì chư hoa quả lai chí Phật sở。khể thủ Phật túc khước trụ nhất diện。
tất cả các loài chim như vậy mang hoa quả đến chỗ Phật, cúi đầu lễ chân Phật rồi đứng lùi về một bên.

復有二十恒河沙等水牛牛羊。往至佛所出妙香乳。
phục hữu nhị thập hằng hà sa đẳng thủy ngưu ngưu dương。vãng chí Phật sở xuất diệu hương nhũ。
Lại có hai mươi hằng hà sa và nhiều hơn nữa trâu nước, trâu dê đến chỗ Phật xuất ra loại sữa thơm ngon.

其乳流滿 拘尸那 城。所有溝坑色香美味悉皆具足。
kỳ nhũ lưu mãn Câu-thi-na thành。sở hữu câu khanh sắc hương mỹ vị tất giai cụ túc。
Sữa ấy chảy đầy cả thành Câu-thi-na, các chỗ như ngòi, rãnh, hầm đều có đầy dủ sữa hương vị thơm ngon ấy,

成是事已却住一面。
thành thị sự dĩ khước trụ nhất diện。
xong việc như vậy rồi đứng lùi về một bên.

復有二十恒河沙等 四天下 中諸神仙人。 忍辱仙 等而為上首。
phục hữu nhị thập hằng hà sa đẳng tứ Thiên hạ trung chư Thần Tiên nhân。nhẫn nhục tiên đẳng nhi vi thượng thủ。
Lại có hai mươi hằng hà sa và nhiều hơn nữa người Thần tiên trong bốn thiên hạ mà Tiên nhẫn nhục v.v.. làm thượng thủ,

持諸香花及諸甘果來詣佛所。稽首佛足遶佛三匝。
trì chư hương hoa cập chư cam quả lai nghệ Phật sở。khể thủ Phật túc nhiễu Phật tam tạp。
mang các loại hương hoa và quả ngọt đến chỗ Phật, cúi đầu lễ chân Phật, nhiễu quanh Phật ba vòng

而白佛言。唯願 世尊 。哀受我等最後供養。
nhi bạch Phật ngôn。duy nguyện Thế tôn 。ai thọ ngã đẵng tối hậu cúng dường。
mà bạch Phật rằng: Xin Thế Tôn từ bi thương xót mà nhận sự cúng dường sau cùng của chúng con.

如來知時默然不許。時諸仙人不果所願。
Như-Lai tri thời mặc nhiên bất hứa。thời chư Tiên nhân bất quả sở nguyện。
Khi Như Lai im lặng, như vậy biết không nhận. Khi ấy, các vị Tiên nhân không được kết quả như ý nguyện thì

心懷愁惱却住一面。 閻浮提 中一切蜂王。
tâm hoài sầu não khước trụ nhất diện。 Diêm-phù-đề trung nhất thiết phong Vương。
tâm hoài sầu não đứng lùi về một bên. Tất cả phong vương trong cõi Diêm-phù-đề

妙音蜂王而為上首。持種種花來詣佛所。
Diệu-Âm phong Vương nhi vi thượng thủ。trì chủng chủng hoa lai nghệ Phật sở。
Diệu Âm phong vương làm thượng thủ, mang các loại hoa đến chỗ Phật,

稽首佛足遶佛一匝却住一面。
khể thủ Phật túc nhiễu Phật nhất tạp khước trụ nhất diện。
cúi đầu lễ chân Phật, nhiễu quanh Phật một vòng rồi đứng lùi về một bên.

爾時 閻浮提比丘 比丘尼 一切皆集。
nhĩ thời Diêm-phù-đề trung Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-ni nhất thiết giai tập。
Lúc bấy giờ tất cả các vị Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-ni trong cõi Diêm-phù-đề đều tập hợp đông đủ

唯除尊者 摩訶迦葉 阿難 二眾。
duy trừ Tôn-Giả Ma-ha Ca-diếp A-nan nhị chúng
chỉ trừ hai chúng của hai Tôn giả Đại Ca-diếpA-nan .

復有無量 阿僧祇 恒河沙等世界中間。及 閻浮提 所有諸山。
phục hữu vô lượng a tăng kì hằng hà sa đẳng thế giới trung gian。cập Diêm-phù-đề sở hữu chư sơn。
Lại có vô lượng A-tăng-kỳ hằng hà sa các núi ở bên trong thế giới các núi trong cõi Diêm-phù-đề

須彌山王而為上首。其山莊嚴叢林蓊欝。
Tu-Di sơn Vương nhi vi thượng thủ。kỳ sơn trang nghiêm tùng lâm ống uất。
Núi Tu-di làm thượng thủ. Núi ấy trang nghiêm rừng cây um tùm,

諸樹茂盛枝條扶踈蔭蔽日光。
chư thụ mậu thịnh chi điều phù sơ ấm tế nhật quang。
các cây cành lá tốt tươi, đan vào nhau che khuất ánh mặt trời,

種種妙花周遍而有。龍泉流水清淨香潔。
chủng chủng diệu hoa châu biến nhi hữu。long tuyền lưu thủy thanh tịnh hương khiết。
muôn hoa đẹp đẽ bày khắp trên cây, suối rồng nước chảy sạch sẽ hương thơm tinh khiết.

諸天龍神 乾闥婆 阿修羅 迦樓羅 緊那羅 摩睺羅伽
chư Thiên long Thần Càn thát bà A-tu-La ca lâu la khẩn na la Ma hầu la dà。
Chư Thiên, Rồng, Càn-thát-bà , A-tu-la , Ca-lâu-la, Khẩn-na-la , Ma-hầu-la-già ,

神仙呪術作倡伎樂。如是等眾彌滿其中。
Thần tiên chú thuật tác xướng kĩ nhạc。như thị đẳng chúng di mãn kỳ trung。
Thần tiên, chú thuật, trỗi lên kỹ nhạc. Các chúng như vậy đầy khắp ở trong đó.

是諸山神亦來詣佛。稽首佛足却住一面。
thị chư sơn Thần diệc lai nghệ Phật。khể thủ Phật túc khước trụ nhất diện。
Các Thần núi cũng đến chỗ Phật, đầu mặt lễ chân Phật rồi đứng lùi về một bên.

復有 阿僧祇 恒河沙等。 四大 海神及諸河神。有 大威德
phục hữu a tăng kì hằng hà sa đẳng。tứ Đại hải Thần cập chư hà Thần。hữu Đại uy đức。
Lại có A-tăng-kỳ hằng hà sa và nhiều hơn nữa các Thần của bốn biển lớn và Thần của các sông khác có uy đức lớn,

具大 神足 。所設供養。倍勝於前。
cụ Đại Thần túc。sở thiết cúng dường。bội thắng ư tiền。
đủ Thần túc lớn, thiết bày đồ cúng dường nhiều hơn gấp bội trước.

諸神身光伎樂燈明。悉蔽日月令不復現。
chư Thần thân quang kĩ nhạc đăng minh。tất tế nhật nguyệt lệnh bất phục hiện。
Thân của các vị Thần ấy phát ánh sáng, kỹ nhạc, đèn sáng che khuất mặt trời mặt trăng khiến cho ánh sáng không hiển hiện được,

以占婆花散熙 連河 。來至佛所稽首佛足却住一面。
dĩ chiêm bà hoa tán Hi liên hà。lai chí Phật sở khể thủ Phật túc khước trụ nhất diện。
lấy hoa chiêm bà rải lên sông Hi Liên, đến chỗ Phật, cúi đầu lễ chân Phật rồi đứng lùi qua một bên.

爾時 拘尸那 城娑羅樹林。
Nhĩ thời Câu-thi-na thành sa-la thụ lâm。
Lúc bấy giờ rừng cây Sa-la trong thành Câu-thi-na

其林變白猶如白鶴。於虛空中自然而有 七寶 堂閣。
kỳ lâm biến bạch do như bạch hạc。ư hư không trung tự nhiên nhi hữu thất bảo đường các。
biến thành màu trắng giống như con Bạch hạc. Ở giữa hư không tự nhiên hiện ra nhà gác có bảy báu,

彫文刻鏤綺飾分明。周匝欄楯眾寶雜廁。
điêu văn khắc lũ khỉ sức phân minh。châu tạp lan thuẫn chúng bảo tạp xí。
nét điêu khắc chạm trổ hết sức tươi đẹp, rõ ràng.

堂下多有流泉浴池。上妙 蓮花 彌滿其中。
đường hạ đa hữu lưu tuyền dục trì。thượng diệu liên hoa di mãn kỳ trung。
Bên dưới nhà có nhiều suối chảy, ao tắm. Trên mặt ao, mặt suối hoa phủ đầy khắp

猶如北方欝單越國。亦如忉利歡喜之園。
do như Bắc phương uất đan việt quốc。diệc như Đao Lợi hoan hỉ chi viên。
giống như vườn Uất Đan Việt ở phương Bắc, cũng như vườn Hoan Hỷ ở cõi trời Đao Lợi .

爾時娑羅樹林中間。種種莊嚴。甚可愛樂。亦復如是。
nhĩ thời sa-la thụ lâm trung gian。chủng chủng trang nghiêm。thậm khả ái lạc。diệc phục như thị。
Lúc bấy giờ trong rừng cây Sa-la, đủ loại trang nghiêm hết sức yêu thích cũng lại như vậy.

是諸天人阿修羅等。咸覩 如來 涅槃 之相。
thị chư Thiên nhân A-tu-La đẳng。hàm đổ Như-Lai Niết-Bàn chi tướng。
Nhưng chư Thiên, người, A-tu-la v.v.. cùng nhìn tướng Như Lai Niết-bàn

皆悉悲感愁憂不樂。
giai tất bi cảm sầu ưu bất lạc。
thì hết thảy đều sầu bi khổ ưu não không thấy vui.

爾時 四天王 釋提桓因 。各相謂言。
nhĩ thời tứ Thiên Vương thích đề hoàn nhân。các tướng vị ngôn。
Lúc bấy giờ Tứ Thiên Vương và Thích-đề Hoàn-nhân đều nói với nhau rằng:

汝等觀察諸天世人及阿修羅。
nhữ đẳng quan sát chư Thiên thế nhân cập A-tu-La。
Các ông hãy quan sát chư Thiên, người thế gian và A-tu-la

大設供養欲於最後供養 如來 。我等亦當如是供養。
Đại thiết cúng dường dục ư tối hậu cúng dường Như-Lai 。ngã đẵng diệc đương như thị cúng dường。
đang thiết bày sự cúng dường lớn để cúng dường Như Lai lần sau cùng. Chúng ta cũng phải cúng dường như vậy.

若我最後得供養者。 檀波羅蜜 則為成就滿足不難。
nhược ngã tối hậu đắc cung dưỡng giả。đàn ba la mật tắc vi thành tựu mãn túc bất nan。
Nếu ta được cúng dường lần sau cùng ấy thì sẽ thành tựu pháp Bố thí Ba-la-mật không khó.

爾時 四天王 所設供養倍勝於前。
nhĩ thời tứ Thiên Vương sở thiết cúng dường bội thắng ư tiền。
Lúc bấy giờ Tứ Thiên vương thiết bày đồ cúng dường nhiều hơn gấp bội trước,

持曼陀羅花 摩訶 曼陀羅花。迦枳樓伽花摩訶迦枳樓伽花。
trì Mạn-đà-la hoa Ma-Ha Mạn-đà-la hoa。ca chỉ lâu dà hoa Ma-Ha ca chỉ lâu dà hoa。
mang các loại hoa như hoa Mạn-đà-la , hoa Ma ha Mạn-đà-la, hoa Ca-chỉ-lâu-già, hoa Ma-ha Câu-chỉ-lâu-già,

曼殊沙花 摩訶 曼殊沙花。
mạn thù sa hoa Ma-Ha mạn thù sa hoa。
hoa Mạn-thù-sa , hoa Ma-ha Mạn-thù-sa,

散多尼迦花 摩訶 散多尼迦花。愛樂花大愛樂花。 普賢 花。
tán đa ni ca hoa Ma-Ha tán đa ni ca hoa。ái lạc hoa Đại ái lạc hoa。 Phổ Hiền hoa。
hoa Tán-đa-ni-ca, hoa Ma-ha Tán-đa-ni-ca, hoa Ái lạc, hoa Đại ái lạc, hoa Phổ hiền, hoa Đại phổ hiền,

普賢 花。時花大時花。香城花大香城花。
Đại Phổ Hiền hoa。thời hoa Đại thời hoa。hương thành hoa Đại hương thành hoa。
Hoa thời, hoa Đại thời, hoa Hương thành, hoa Đại hương thành,

歡喜花大歡喜花。發欲花大發欲花。香醉花大香醉花。
hoan hỉ hoa Đại hoan hỉ hoa。phát dục hoa Đại phát dục hoa。hương túy hoa Đại hương túy hoa。
hoa Hoan hỷ, hoa Đại hoan hỷ, hoa Phát dục, hoa Đại phát dục, hoa Hương Túy, hoa Đại hương túy,

普香花大普香花天金葉花 龍華
phổ hương hoa Đại phổ hương hoa Thiên kim diệp hoa long hoa。
hoa Phổ hương, hoa Đại phổ hương, hoa Thiên kim diệp, hoa Long,

波利質多樹花拘毘羅樹花。復持種種上妙甘饍。
Ba lợi chất đa thụ hoa câu tì la thụ hoa。phục trì chủng chủng thượng diệu cam thiện。
hoa Ba-lợi-chất-đa-thụ, hoa Câu-tỳ-la-thụ, lại mang đủ loại ngọt ngon thượng diệu

來至佛所稽首佛足。是諸天人所有光明。
lai chí Phật sở khể thủ Phật túc。thị chư Thiên nhân sở hữu quang-minh。
đến chỗ Như Lai cúi đầu lễ chân Phật. Các vị trời đó có ánh sáng

能覆日月令不復現。以是供具欲供養佛。
năng phúc nhật nguyệt lệnh bất phục hiện。dĩ thị cúng cụ dục cúng dường Phật。
có thể che khuất mặt trời mặt trăng khiến không hiển hiện được, mang đầy đủ đồ cúng dường để cúng dường Phật.

如來知時默然不受。爾時諸天不果所願。
Như-Lai tri thời mặc nhiên bất thọ。nhĩ thời chư Thiên bất quả sở nguyện。
Khi Như Lai im lặng, như vậy biết không nhận. Lúc bấy giờ chư Thiên không được kết quả như ý nguyện thì

愁憂苦惱却住一面。
sầu ưu khổ não khước trụ nhất diện。
lo sầu khổ não đứng lùi về một bên.

爾時 釋提桓因 及三十三天。
nhĩ thời thích đề hoàn nhân cập tam thập tam Thiên。
Lúc bấy giờ Thích-đề Hoàn-nhân và Trời Ba mươi ba

設諸供具亦倍勝前。及所持花亦復如是。
thiết chư cúng cụ diệc bội thắng tiền。cập sở trì hoa diệc phục như thị。
thiết bày đồ cúng dường cũng nhiều gấp bội trước và mang hoa cũng nhiều như vậy.

香氣微妙甚可愛樂。持得勝堂并諸小堂。來至佛所稽首佛足。
hương khí vi diệu thậm khả ái lạc。trì đắc thắng đường tinh chư tiểu đường。lai chí Phật sở khể thủ Phật túc。
Hoa ấy hương thơm vi diệu rất đáng ưa thích, đem đến gian nhà đẹp nhất và các nhà nhỏ, đến chỗ của Phật

而白佛言。 世尊 。我等深樂愛護 大乘
nhi bạch Phật ngôn。 Thế tôn 。ngã đẵng thâm lạc ái hộ Đại thừa
mà bạch Phật rằng: Bạch đức Thế Tôn ! Chúng con rất yêu thích ủng hộ Đại thừa ,

唯願 如來 哀受我食。如來知時默然不受。
duy nguyện Như Lai ai thọ ngã thực。Như Lai tri thời mặc nhiên bất thọ。
xin nguyện Như Lai thương xót mà nhận đồ ăn của con. Khi Như Lai im lặng, như vậy biết không nhận.

時諸釋天不果所願。心懷愁惱却住一面。
thời chư thích Thiên bất quả sở nguyện。tâm hoài sầu não khước trụ nhất diện。
Khi ấy Trời Đế thích không được kết quả như ý nguyện thì tâm hoài sầu não đứng lùi về một bên.

乃至第六天所設供養展轉勝前。寶幢幡蓋。
nãi chí đệ lục Thiên sở thiết cúng dường triển chuyển thắng tiền。bảo tràng phiên cái。
Cho đến Trời thứ sáu lần lượt thiết bày đồ cúng dường như tràng, phan, lọng báu nhiều hơn trước.

寶蓋小者覆 四天下 。幡最短者周圍四海。
bảo cái tiểu giả phúc tứ Thiên hạ。phiên tối đoản giả châu vi tứ hải。
Lọng báu nhỏ nhất là che phủ bốn thiên hạ, phan ngắn nhất là giáp vòng bốn biển,

幢最卑者至 自在天 。微風吹幡出妙音聲。
tràng tối ti giả chí Tự Tại Thiên。vi phong xuy phiên xuất Diệu-Âm thanh。
tràng thấp nhất là đến cõi trời Tự Tại. Gió vi diệu thổi vào phan ấy phát ra âm thanh tuyệt diệu.

持上甘饍來詣佛所稽首佛足白佛言。 世尊
trì thượng cam thiện lai nghệ Phật sở khể thủ Phật túc bạch Phật ngôn。 Thế tôn
Tất cả những thứ thượng đẳng ngọt ngon đó được mang đến chỗ Phật, cúi đầu lễ Phật mà bạch Phật rằng: Bạch đức Thế Tôn !

唯願 如來 哀受我等最後供養。如來知時默然不受。
duy nguyện Như Lai ai thọ ngã đẵng tối hậu cúng dường。Như Lai tri thời mặc nhiên bất thọ。
Xin nguyện Như Lai thương xót mà nhận sự cúng cúng dường sau cùng của con. Khi Như Lai im lặng, như vậy biết không nhận,

是諸天等不果所願。心懷愁惱却住一面。上至有頂。
thị chư Thiên đẳng bất quả sở nguyện。tâm hoài sầu não khước trụ nhất diện。thượng chí hữu đỉnh。
các vị trời không được kết quả như ý nguyện, tâm hoài sầu não đứng lùi về một bên. Cho đến cõi trời cao nhất,

其餘梵眾一切來集。
kỳ dư phạm chúng nhất thiết lai tập。
tất cả Phạm chúng đều đến tập hợp.

爾時 大梵天王 及餘梵眾。放身光明遍 四天下
nhĩ thời Đại Phạm Thiên Vương cập dư phạm chúng 。phóng thân quang-minh biến tứ Thiên hạ。
Lúc bấy giờ trời Đại Phạm và các Phạm chúng khác thân phóng ánh sáng chiếu khắp bốn thiên hạ,

欲界人天日月光明悉不復現。持諸寶幢繒綵幡蓋。
dục giới nhân Thiên nhật nguyệt quang minh tất bất phục hiện。trì chư bảo tràng tăng thải phiên cái。
làm cho ánh sáng của Mặt trời Mặt trăng ở Dục giới đều không hiện được. Các Trời mang đồ cúng dường như lụa dày, tràng, phan, lọng báu.

幡極短者懸於 梵宮 至娑羅樹間。
phiên cực đoản giả huyền ư phạm cung chí sa-la thụ gian。
Phan ngắn nhất ấy treo từ cung điện trời Đại phạm đến giữa hai cây Sa-la,

來詣佛所稽首佛足白佛言。 世尊 。唯願 如來 。哀受我等最後供養。
lai nghệ Phật sở khể thủ Phật túc bạch Phật ngôn。 Thế Tôn 。duy nguyện Như Lai 。ai thọ ngã đẵng tối hậu cúng dường。
tất cả đồ cúng dường mang đến chỗ Phật, cúi đầu lễ chân Phật rồi bạch Phật rằng: Bạch đức Thế Tôn ! Xin nguyện Như Lai thương xót mà nhận sự cúng dường sau cùng của chúng con.

如來知時默然不受。爾時諸梵不果所願。
Như-Lai tri thời mặc nhiên bất thọ。nhĩ thời chư phạm bất quả sở nguyện。
Khi Như Lai im lặng, như vậy biết không nhận. Lúc bấy giờ các Đại Phạm không được kết quả như ý nguyện,

心懷愁惱却住一面。爾時 毘摩質多 阿修羅王。
tâm hoài sầu não khước trụ nhất diện。nhĩ thời tì ma chất đa A-tu-La Vương。
tâm hoài sầu não đứng lùi về một bên. Lúc bấy giờ có vua của A-tu-la là Tỳ-ma-chất-đa

與無量阿修羅大眷屬俱。
dữ vô lượng A-tu-La Đại quyến chúc câu。
cùng với vô lượng A-tu-la và quyến thuộc lớn đến tập hội.

身諸光明勝於 梵天 。持諸寶幢繒綵幡蓋。其蓋小者覆千世界。
thân chư quang minh thắng ư Phạm Thiên 。trì chư bảo tràng tăng thải phiên cái。kỳ cái tiểu giả phúc thiên thế giới。
Thân của các vị ấy sáng hơn ở Phạm thiên , mang theo tràng, lụa dày, phan, lọng báu, lọng nhỏ nhất che phủ cả ngàn thế giới,

上妙甘饍來詣佛所稽首佛足而白佛言。
thượng diệu cam thiện lai nghệ Phật sở khể thủ Phật túc nhi bạch Phật ngôn。
và những thứ thượng diệu ngọt ngon đến chỗ của Phật, cúi đầu lễ chân Phật rồi bạch Phật rằng:

唯願 如來 。哀受我等最後供養。
duy nguyện Như Lai 。ai thọ ngã đẵng tối hậu cúng dường。
Bạch đức Thế Tôn ! Xin nguyện Như Lai thương xót mà nhận sự cúng dường sau cùng của chúng con.

如來知時默然不受。諸阿修羅不果所願。心懷愁惱却住一面。
Như Lai tri thời mặc nhiên bất thọ。chư A-tu-La bất quả sở nguyện。tâm hoài sầu não khước trụ nhất diện。
Khi Như Lai im lặng, như vậy biết không nhận. Lúc bấy giờ các A-tu-la không được kết quả như ý nguyện,tâm hoài sầu não đứng lùi về một bên.

爾時欲界 魔王 波旬 。與其眷屬諸天婇女。
nhĩ thời dục giới ma Vương Ba-tuần 。dữ kỳ quyến chúc chư Thiên 婇nữ。
Lúc bấy giờ có vua ma Ba-tuần ở Dục giới cùng với quyến thuộc, chư Thiên thể nữ của vua,

無量無邊 阿僧祇 眾。開 地獄 門施清冷水。
vô lượng vô biên a tăng kì chúng。khai Địa-ngục môn thí thanh lãnh thủy。
mở cửa ở Địa ngục rồi bố thí nước trong mát cho vô lượng vô biên A-tăng-kỳ chúng ở trong ấy,

因而告曰。汝等今者無所能為。
nhân nhi cáo viết。nhữ đẳng kim giả vô sở năng vi。
nhân đó mà nói rằng: Hôm nay các ngươi không làm gì

唯當專念 如來正遍知 。建立最後隨喜供養。
duy đương chuyên niệm Như-Lai ứng Chánh-biến-Tri 。kiến lập tối hậu tùy hỉ cúng dường。
chỉ nên chuyên tâm nhớ nghĩ đến Như Lai Ứng Chánh Biến Tri , dựng lên sự tùy hỷ cúng dường sau cùng,

當令汝等長夜獲安。時 魔波旬地獄 中。
đương lệnh nhữ đẳng trường dạ hoạch an。thời Ma ba-tuần ư Địa-ngục trung。
sẽ làm cho các ngươi đêm dài được an lạc. Khi ấy, ma Ba-tuần ở trong Địa ngục

悉除刀劍無量苦毒。熾然炎火注雨滅之。以佛神力復發。
tất trừ đao kiếm vô lượng khổ độc。sí nhiên viêm hỏa chú vũ diệt chi。dĩ Phật Thần lực phục phát。
dẹp hết tất cả đao kiếm và vô lượng những thứ độc hại, rót nước mưa xuống dập tắt các ngọn lửa đang bốc cháy. Do thần lực của Phật mà phát

是心。
thị tâm。
tâm như vậy

令諸眷屬皆捨刀劍弓弩鎧仗鉾槊長鉤金鎚鉞斧鬪輪羂索。
lệnh chư quyến chúc giai xả đao kiếm cung nỗ khải trượng 鉾sóc trường câu kim chùy việt phủ đấu luân quyển tác。
khiến cho các quyến thuộc của mình đều xả bỏ đao kiếm, cung nỏ, áo dày dát đồng, gậy, giáo dài, móc đồng, chày, búa lớn để đánh nhau đều tan tát.

所持供養倍勝一切人天所設。其蓋小者覆中千界。
sở trì cúng dường bội thắng nhất thiết nhân Thiên sở thiết。kỳ cái tiểu giả phúc trung thiên giới。
Vua ma Ba-tuần mang đồ cúng dường nhiều hơn gấp bội chỗ cúng dường của người Trời. Lọng nhỏ nhất cũng che phủ trong một ngàn thế giới,

來至佛所稽首佛足而白佛言。
lai chí Phật sở khể thủ Phật túc nhi bạch Phật ngôn。
mang đến chỗ của Phật, lễ chân Phật mà bạch Phật rằng:

我等今者愛樂 大乘 守護大乘。 世尊 。若有 善男子 善女人。為供養故。
ngã đẵng kim giả ái lạc Đại thừa thủ hộ Đại thừa。 Thế tôn 。nhược hữu thiện nam tử Thiện Nữ Nhân。vi cúng dường cố。
Nay chúng con yêu thích Đại thừa , giữ gìn Đại thừa. Thế Tôn ! Nếu có thiện nam tử thiện nữ nhân vì cúng dường,

為怖畏故。為誑他故。為財利故。為隨他故。
vi ố úy cố。vi cuống tha cố。vi tài lợi cố。vi tùy tha cố。
vì sợ hãi, vì dối người khác, vì tài lợi, vì theo người khác

受是 大乘 或真或偽。
thọ thị Đại thừa hoặc chân hoặc ngụy。
mà thọ Đại thừa hoặc thật hoặc giả,

我等爾時當為是人除滅怖畏。說如是呪。
ngã đẵng nhĩ thời đương vi thị nhân trừ diệt bố úy。thuyết như thị chú。
lúc bấy giờ chúng con sẽ nói chú như vậy làm cho người đó diệt trừ đi sự sợ hãi:

啅抧 吒吒羅啅抧 盧呵隷 摩
Trác chỉ, trá trá la trác chỉ, lô ha lệ ma,
Trác chỉ, trá trá la trác chỉ, lô ha lệ ma,

訶盧訶隷 阿羅 遮羅 多羅 莎呵
ha lô ha lệ  a la  già la  đa-la  toa ha
ha lô ha lệ, a la, già la, đa la tóa ha.

是呪。
thị chú。
Chú này

能令諸失心者怖畏者說法者不斷 正法 者。為伏外道故。護己身故。護正法故。
năng lệnh chư thất tâm giả bố úy giả thuyết Pháp giả bất đoạn chánh Pháp giả。vi phục ngoại đạo cố。hộ kỷ thân cố。hộ chánh Pháp cố。
có thể làm cho người ấy tâm không còn sợ hãi, tâm không sợ hãi thì nói pháp không bị đoạn mất chánh pháp , vì vậy mà hàng phục được ngoại đạo, vì vậy mà giữ gìn được tự thân, vì vậy mà hộ trì được chánh pháp,

大乘 故。說如是呪。
hộ Đại thừa cố。thuyết như thị chú。
vì vậy mà hộ trì được Đại thừa . Nói chú như vậy,

若有能持如是呪者無惡象怖。若至曠野空澤嶮處不生怖畏。
nhược hữu năng trì như thị chú giả vô ác tượng phố。nhược chí khoáng dã không trạch hiểm xử bất sanh bố úy。
nếu người ấy hay thọ trì thì không có các hiện tượng xấu ác, sợ hãi, hoặc đến những nơi đồng trống, chỗ ẩm ướt hiểm nguy cũng không còn tâm sợ hãi,

亦無水火師子虎狼 盜賊 王難。 世尊
diệc vô thủy hỏa Sư-tử hổ lang đạo tặc Vương nan。 Thế tôn
cũng không có các nạn như nước, lửa, sư tử, hổ lang, giặc cướp, nạn vua. Thế Tôn !

若有能持如是呪者。悉能除滅如是等怖。 世尊
nhược hữu năng trì như thị chú giả。tất năng trừ diệt như thị đẳng phố。 Thế tôn
Nếu có người hay thọ trì chú như vậy, thì có thể diệt trừ hết tất cả các sự sợ hãi. Thế Tôn !

持是呪者我當護之如龜藏六。 世尊
trì thị chú giả ngã đương hộ chi như quy tạng lục。 Thế tôn
Con sẽ hộ trì cho người trì chú này giống như rùa sáu tàng. Thế Tôn !

我等今者不以諭諂說如是事。
ngã đẵng kim giả bất dĩ dụ siểm thuyết như thị sự。
Chúng con hôm nay không phải dùng những lời nịnh hót để nói lên việc

持是呪者我當至誠益其勢力。唯願 如來 。哀受我等最後供養。
trì thị chú giả ngã đương chí thành ích kỳ thế lực。duy nguyện Như Lai 。ai thọ ngã đẵng tối hậu cúng dường。
người trì chú ấy chúng con sẽ được lợi ích và có thế lực nhờ lợi ích đó, mà chỉ mong Như Lai thương xót nhận sự cúng dường sau cùng của chúng con.

爾時佛告 魔波旬 言。我不受汝飲食供養。
nhĩ thời Phật cáo Ma ba-tuần ngôn。ngã bất thọ nhữ ẩm thực cúng dường。
Lúc bấy giờ Phật dạy Ma ba-tuần rằng: Ta không nhận thức ăn vật uống của các ngươi cúng dường.

我已受汝所說神呪。為欲安樂一切眾生四部眾故。
ngã dĩ thọ nhữ sở thuyết Thần chú 。vi dục an lạc nhất thiết chúng sanh tứ bộ chúng cố。
Ta đã nhận chỗ Thần chú ngươi nói, là vì muốn an lạc cho tất cả chúng sanh và bốn bộ chúng.

佛說是已默然不受。如是三請皆亦不受。
Phật thuyết thị dĩ mặc nhiên bất thọ。như thị tam thỉnh giai diệc bất thọ。
Phật dạy xong rồi im lặng không nhận, thỉnh như vậy ba lần Phật cũng không nhận.

魔波旬 不果所願。心懷愁惱却住一面。
thời Ma ba-tuần bất quả sở nguyện。tâm hoài sầu não khước trụ nhất diện。
Khi ấy ma ba-tuần không được kết quả như ý nguyện, tâm hoài sầu não đứng lùi về một bên.

爾時 大自在天 王與其眷屬無量無邊及諸 天眾
nhĩ thời Đại Tự Tại Thiên Vương dữ kỳ quyến chúc vô lượng vô biên cập chư Thiên chúng
Lúc bấy giờ vua trời Đại Tự Tại cùng với vô lượng vô biên quyến thuộc của vua và chúng trời khác,

所設供具悉覆 梵釋 護世四王人天八部及非人等所有供具。
sở thiết cúng cụ tất phúc phạm thích hộ thế tứ Vương nhân Thiên bát bộ cập phi nhân đẳng sở hữu cung cụ。
thiết bày đủ đồ cúng dường vượt xa đồ cúng dường của bốn vua Phạm thích hộ đời, người, Trời, Bát bộ, phi nhân v.v...

梵釋所設猶如聚墨在珂貝邊悉不復現寶蓋小者能覆 三千大千世界
phạm thích sở thiết do như tụ mặc tại kha bối biên tất bất phục hiện bảo cái tiểu giả năng phúc tam thiên Đại Thiên thế giới .
Đồ cúng dường của Phạm thích giống như viên ngọc sò bị một chấm đen bên mé không hiện sáng được. Lọng báu nhỏ nhất của vua trời Đại Tự Tại ấy có thể che trùm ba ngàn đại thiên thế giới,

持如是等供養之具。
trì như thị đẳng cúng dường chi cụ。
mang đầy đủ đồ cúng dường như vậy

來詣佛所稽首佛足遶無數匝白佛言。 世尊 。我等所獻微末供具。
lai nghệ Phật sở khể thủ Phật túc nhiễu vô sổ tạp bạch Phật ngôn。 Thế tôn 。ngã đẵng sở hiến vi mạt cung cụ。
đến chỗ Phật, cúi đầu lễ chân Phật rồi nhiễu quanh vô số vòng mà bạch Phật rằng: Bạch đức Thế Tôn !

喻如蚊子供養於我。
dụ như văn tử cúng dường ư ngã。
Dụ như con muỗi đối với con mà cúng dường,

亦如有人以一掬水投於大海。然一小燈助百千日。
diệc như hữu nhân dĩ nhất cúc thủy đầu ư Đại hải。nhiên nhất tiểu đăng trợ bách thiên nhật。
cũng như có người dùng một chén nước đổ vào biển lớn, đốt một cây đèn nhỏ giúp một trăm ngàn ngày

春夏之月眾花茂盛。有持一花益於眾花。
xuân hạ chi nguyệt chúng hoa mậu thịnh。hữu trì nhất hoa ích ư chúng hoa。
cho hoa quả tốt tươi trong những tháng mùa xuân mùa hè. Có người cầm một cái hoa trong số hoa ấy

以亭歷子益 須彌山 。豈當有益大海日明眾花須彌。 世尊
dĩ đình lịch tử ích Tu-Di sơn。khởi đương hữu ích Đại hải nhật minh chúng hoa Tu-Di。 Thế tôn
đến làm lợi ích cho núi Tu-di . Sao có thể làm lợi ích cho biển lớn, làm ngày sáng cho các loài hoa, núi Tu-di. Bạch đức Thế Tôn !

我今所奉微末供具亦復如是。
ngã kim sở phụng vi mạt cung cụ diệc phục như thị。
Hôm nay chúng con đem những đồ vi diệu, tối thượng đến hiến cúng cũng lại như vậy.

若以 三千大千世界 滿中香花伎樂幡蓋。
nhược dĩ tam Thiên Đại Thiên thế giới mãn trung hương hoa kĩ nhạc phiên cái。
Nếu có dùng hương hoa, kỹ nhạc, phan lọng đầy cả ba ngàn đại thiên thế giới

供養 如來 尚不足言。何以故。
cúng dường Như Lai thượng bất túc ngôn。hà dĩ cố。
mà cúng dường Như Lai còn không đủ, nói chi cúng như thế. Vì sao như vậy?

如來為諸眾生常於 地獄 餓鬼 畜生諸 惡趣 中受諸苦惱。是故 世尊
Như Lai vị chư chúng sanh thường ư Địa ngục ngạ quỷ súc sanh chư ác thú trung thọ chư khổ não。thị cố Thế tôn
Như Lai vì hết thảy chúng sanh thường thọ chư khổ não ở trong các đường địa ngục , ngạ quỷ , súc sanh, vì vậy Thế Tôn

應見哀愍受我等供。
ứng kiến ai mẫn thọ ngã đẵng cúng。
nhìn mà thương xót nhận sự cúng dường của chúng con.

爾時東方去此無量無數 阿僧祇 恒河沙數
Nhĩ thời Đông phương khứ thử vô lượng vô số a tăng kì hằng-hà sa-số
Lúc bấy giờ ở phương Đông cách đây vô lượng vô biên vô số A-tăng-kỳ hằng hà sa số

微塵等世界。彼有 佛土 名意樂美音。
vi trần đẳng thế giới。bỉ hữu Phật thổ danh Ý Lạc Mỹ Âm。
thế giới nhiều như vi trần, cõi nước Phật ấy có tên là Ý Lạc Mỹ Âm.

佛號虛空等 如來 應供 正遍知 明行足 善逝 世間解
Phật hiệu hư không đẳng Như Lai Ứng Cúng Chánh-biến-Tri Minh-hạnh-Túc thiện thệ thế gian giải
Phật ấy hiệu là Hư Không Đẳng Như Lai , Ứng Cúng , Chánh Biến Tri , Minh Hạnh Túc , Thiện Thệ , Thế Gian Giải ,

無上士 調御丈夫 天人師 佛世尊
Vô-thượng-Sĩ điều ngự trượng phu Thiên Nhơn Sư Phật Thế tôn
Vô Thượng Sĩ, Điều Ngự Trượng Phu , Thiên Nhân Sư , Phật, Thế Tôn .

爾時彼佛即告第一 大弟子 言。 善男子
nhĩ thời bỉ Phật tức cáo đệ nhất đại đệ tử ngôn。thiện nam tử。
Lúc bấy giờ Phật ấy nói với vị đệ tử lớn nhất rằng: Thiện nam tử !

汝今宜往 西方 娑婆世界
nhữ kim nghi vãng Tây phương Sa Bà thế giới。
Ngươi nay phải đến thế giới Sa BàTây phương ,

彼土有佛號 釋迦牟尼 如來 應供 正遍知 明行足 善逝 世間解 無上士 調御丈夫
bỉ độ hữu Phật hiệu Thích Ca Mâu Ni Như-Lai Ứng-Cúng Chánh-biến-Tri Minh-hạnh-Túc thiện thệ thế gian giải Vô-thượng-Sĩ điều ngự trượng phu
cõi ấy có Phật hiệu là Thích Ca Mâu Ni Như Lai , Ứng Cúng , Chánh Biến Tri , Minh Hạnh Túc , Thiện Thệ , Thế Gian Giải , Vô Thượng Sĩ , Điều Ngự Trượng Phu ,

天人師 佛世尊 。彼佛不久當 般涅槃善男子
Thiên Nhơn Sư Phật Thế tôn 。bỉ Phật bất cửu đương bát Niết-Bàn 。thiện nam tử。
Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn . Phật ấy không bao lâu nữa sẽ vào Niết-bàn . Thiện nam tử !

汝可持此世界香飯。其飯香美。食之安隱。
nhữ khả trì thử thế giới hương phạn。kỳ phạn hương mỹ。thực chi an ổn。
Ngươi có thể mang cơm thơm ở thế giới này, cơm ấy hương thơm ngon, ăn vào an ổn,

可以此食奉獻彼 佛世尊
khả dĩ thử thực phụng hiến bỉ Phật Thế tôn
có thể dùng thức ăn này dâng cúng Phật Thế Tôn kia.

世尊食已入 般涅槃善男子 。并可禮敬請決所疑。
Thế tôn thực dĩ nhập bát Niết-Bàn 。thiện nam tử。tinh khả lễ kính thỉnh quyết sở nghi。
Thế Tôn dùng xong sẽ vào Niết-bàn . Thiện nam tử đều có thể cung kính lễ bái hỏi những chỗ còn nghi ngờ.

爾時 無邊身 菩薩 摩訶薩。即受 佛教 從座而起。
nhĩ thời vô biên thân Bồ-tát Ma-Ha tát。tức thọ Phật giáo tùng tọa nhi khởi。
Lúc bấy giờ Đại Bồ-tát Vô Biên Thân liền nhận lời dạy của Phật rời chỗ ngồi đứng dậy

稽首佛足右遶三匝。與無量 阿僧祇 菩薩 俱。
khể thủ Phật túc hữu nhiễu tam tạp。dữ vô lượng a tăng kì Bồ-tát câu。
cúi đầu lễ chân Phật, nhiễu ba vòng rồi cùng với vô lượng A-tăng-kỳ Bồ-tát đến tập hội.

從彼國發來至此 娑婆世界
tòng bỉ quốc phát lai chí thử Sa Bà thế giới。
Từ nước ấy đến thế giới Sa-bà ,

應時此間 三千大千世界 大地 六種震動
ứng thời thử gian tam Thiên Đại Thiên thế giới Đại địa lục chủng chấn động
trong khoảng này ba ngàn đại thiên thế giới đại địa sáu loại chấn động.

於是眾中 梵釋四天魔王 波旬 摩醯首羅。如是大眾見是地動。
ư thị chúng trung phạm thích tứ Thiên Vương ma Vương Ba-tuần ma hề thủ la。như thị Đại chúng kiến thị địa động。
Trong chúng ấy gồm Phạm Thích , Tứ Thiên vương , vua ma Ba-tuần Ma-hê-thủ-la. Đại chúng thấy đất chấn động như vậy

舉身毛竪喉舌枯燥。驚怖戰慄各欲四散。
cử thân mao thọ hầu thiệt khô táo。kinh phố chiến lật các dục tứ tán。
lông trên thân dựng đứng lên, cổ họng khô khát, lưỡi héo khô, kinh hãi xô nhau chạy tứ phía,

自見其身無復光明。所有威德殄滅無餘。
tự kiến kỳ thân vô phục quang-minh。sở hữu uy đức điễn diệt vô dư。
tự thấy thân mình không còn ánh sáng nữa, uy đức cũng bị tiêu mất không còn.

是時 文殊師利 法王子 。即從座起告諸大眾。
thị thời Văn-thù-sư-lợi Pháp-Vương-Tử。tức tùng toạ khởi cáo chư Đại chúng。
Lúc bấy giờ Văn-thù-sư-lợi Pháp Vương Tử liền từ chỗ ngồi đứng dậy nói với Đại chúng rằng:

善男子 。汝等勿怖。汝等勿怖。何以故。
chư thiện nam tử。nhữ đẳng vật phố。nhữ đẳng vật phố。hà dĩ cố。
Chư Thiện nam tử ! Các ông chớ có sợ hãi! Các ông chớ có sợ hãi! Vì sao vậy?

東方去此無量無數 阿僧祇 恒河沙微塵等世界。
Đông phương khứ thử vô lượng vô sổ a tăng kì hằng hà sa vi trần đẳng thế giới。
Ở phương Đông cách đây vô lượng vô số A-tăng-kỳ hằng-hà-sa số thế giới nhiều như vi trần

有世界名意樂美音。
hữu thế giới danh ý lạc mỹ âm。
có thế giới tên là Ý Lạc Mỹ Âm.

佛號虛空等 如來正遍知 十號 具足。彼有 菩薩無邊身
Phật hiệu hư không đẳng Như-Lai ứng Chánh-biến-Tri thập hiệu cụ túc。bỉ hữu Bồ-tát danh vô biên thân
Phật hiệu là Hư Không Đẳng Như Lai , Ứng Cúng , Chánh Biến Tri đầy đủ mười hiệu. Nước ấy có Bồ-tát tên là Vô Biên Thân

與無量 菩薩 欲來至此供養 如來 。以彼菩薩威德力故。
dữ vô lượng Bồ-tát dục lai chí thử cúng dường Như Lai 。dĩ bỉ Bồ-tát uy đức lực cố。
cùng với vô lượng Bồ-tát muốn đến cúng dường Như Lai này. Do uy đức của Bồ-tát ấy nên

令汝身光悉不復現。
lệnh nhữ thân quang tất bất phục hiện。
khiến cho ánh sáng thân các ông không hiển hiện được.

是故汝等應生歡喜勿懷恐怖。爾時大眾悉皆遙見彼佛大眾。
thị cố nhữ đẳng ứng sanh hoan hỉ vật hoài khủng phố。nhĩ thời Đại chúng tất giai diêu kiến bỉ Phật Đại chúng。
Vì vậy các ông phải nên sanh tâm hoan hỷ chớ có lo buồn sợ hãi. Lúc bấy giờ đại chúng đều xa thấy Phật kia và đại chúng,

如明鏡中自觀己身。時 文殊師利 復告大眾。
như minh kính trung tự quán kỷ thân。thời Văn-thù-sư-lợi phục cáo Đại chúng。
giống như nhìn thấy chính thân mình ở trong gương sáng. Văn-thù-sư-lợi lại nói với đại chúng rằng:

汝今所見彼佛大眾如見此佛。
nhữ kim sở kiến bỉ Phật Đại chúng như kiến thử Phật。
Các ông thấy Phật kia và đại chúng như thấy Phật hiện nay.

以佛神力復當如是得見九方無量諸佛。爾時大眾各相謂言。
dĩ Phật Thần lực phục đương như thị đắc kiến cửu phương vô lượng chư Phật。nhĩ thời Đại chúng các tương vị ngôn。
Do thần lực của Phật, các ông lại sẽ được thấy vô lượng chư Phật trong chín phương. Lúc bấy giờ đại chúng đều nói với nhau rằng:

苦哉苦哉。世間空虛。 如來 不久當 般涅槃
khổ tai khổ tai。thế gian không hư。 Như-Lai bất cửu đương bát Niết-Bàn
Khổ thay, khổ thay! Thế gian trống rỗng! Như Lai không bao lâu nữa sẽ vào Niết-bàn !

是時大眾一切悉見 無邊身 菩薩 及其眷屬。
thị thời Đại chúng nhất thiết tất kiến vô biên thân Bồ-tát cập kỳ quyến thuộc。
Khi ấy, hết thảy đại chúng đều thấy Bồ-tát Vô Biên Thân cùng với quyến thuộc.

菩薩 身一一毛孔各各出生一大 蓮花
thị Bồ-tát thân nhất nhất mao khổng các các xuất sanh nhất Đại liên hoa
Mỗi mỗi lỗ chân lông trên thân Bồ-tát đó đều sanh ra một hoa sen lớn.

一一 蓮花 各有七萬八千城邑。
nhất nhất liên hoa các hữu thất vạn bát thiên thành ấp。
Mỗi mỗi hoa sen đều có bảy vạn tám ngàn thành ấp,

縱廣正等如毘耶離城。牆壁諸塹 七寶 雜廁。
túng quảng chánh đẳng như tì da ly thành。tường bích chư tiệm thất bảo tạp xí。
ngang rộng ngay thẳng giống như thành Tỳ-da-ly. Tường vách và các hào xây bằng bảy báu lẫn lộn,

多羅寶樹七重行列。人民熾盛安隱豐樂。
đa-la bảo thụ thất trọng hành liệt。nhân dân sí thịnh an ổn phong lạc。
cây bảo Đa-la bày bảy hàng, nhân dân an ổn thịnh vượng,

閻浮檀金以為却敵。一一却敵各有種種 七寶 林樹花果茂盛。
diêm-phù-đàn kim dĩ vi khước địch。nhất nhất khước địch các hữu chủng chủng thất bảo lâm thụ hoa quả mậu thịnh。
vàng Diêm Phù Đàn làm cái khước địch, mỗi mỗi khước địch đều có các loại cây cối hoa quả bằng bảy báu tươi tốt.

微風吹動出微妙音。其聲和雅猶如 天樂
vi phong xuy động xuất vi Diệu-Âm。kỳ thanh hòa nhã do như Thiên nhạc
Gió nhẹ thổi động phát ra âm thanh vi diệu, âm thanh ấy hòa nhã giống như nhạc trời.

城中人民聞是音聲。即得受於上妙快樂。
thành trung nhân dân văn thị âm thanh。tức đắc thọ ư thượng diệu khoái lạc。
Nhân dân trong thành nghe âm thanh ấy liền nhận được thượng diệu khoái lạc.

是諸塹中妙水盈滿。清淨香潔如真琉璃。
thị chư tiệm trung diệu thủy doanh mãn。thanh tịnh hương khiết như chân lưu ly
Nước trong đẹp ở trong các hào luôn tràn đầy, trong sạch, hương thơm tinh khiết giống như lưu ly thật.

是諸水中有 七寶 船。諸人乘之遊戲澡浴。
thị chư thủy trung hữu thất bảo thuyền。chư nhân thừa chi du hí tháo dục。
Trong nước ấy có thuyền bảy báu, người vào trong thuyền

共相娛樂快樂無極。復有無量雜色 蓮花優鉢羅 花。
cộng tướng ngu lạc khoái lạc vô cực。phục hữu vô lượng tạp sắc liên hoaƯu bát la hoa。
cùng nhau vui chơi tắm rửa vô cùng sướng thích. Lại có vô lượng hoa sen đủ màu và các hoa như hoa Ưu-bát-la,

拘物頭花。 波頭摩 花。 分陀利 花。
câu vật đầu hoa。ba đầu ma hoa。 phân đà lợi hoa。
hoa Câu-vật-đầu, hoa Ba-đầu-ma, hoa Phân-đà-lợi.

其花縱廣猶如車輪。其塹岸上多有園林。
kỳ hoa túng quảng do như xa luân。kỳ tiệm ngạn thượng đa hữu viên lâm。
Hoa ấy bung ra rộng giống như bánh xe. Trên bờ hào có nhiều vườn rừng.

一一園中有五泉池。是諸池中復有諸花。 優鉢羅 花。
nhất nhất viên trung hữu ngũ tuyền trì。thị chư trì trung phục hữu chư hoa。 Ưu bát la hoa。
Trong mỗi mỗi vườn có năm suối ao, trong các ao ấy lại có các loại hoa như hoa Ưu-bát-la,

拘物頭花。 波頭摩 花。 分陀利 花。
câu vật đầu hoa。ba đầu ma hoa。 phân đà lợi hoa。
hoa Câu-vật-đầu, hoa Ba-đầu-ma, hoa Phân-đà-lợi.

其花縱廣亦如車輪。香氣馚馥甚可愛樂。
kỳ hoa túng quảng diệc như xa luân。hương khí 馚phức thậm khả ái lạc。
Hoa ấy bung ra rộng giống như bánh xe, phảng phất hương thơm hết sức ưa thích.

其水清淨柔軟第一。鳧鴈鴛鴦遊戲其中。
kỳ thủy thanh tịnh nhu nhuyễn đệ nhất。phù nhạn uyên ương du hí kỳ trung。
Nước suối sạch sẽ mềm mại đệ nhất, le le, nhạn, uyên ương thường bay nhảy vui chơi ở trong đó.

其園各有眾寶宮宅。一一宮宅縱廣正等滿四 由旬
kỳ viên các hữu chúng bảo cung trạch。nhất nhất cung trạch túng quảng chánh đẳng mãn tứ do-tuần
Vườn ấy đều có cung nhà bằng các báu, mỗi mỗi cung nhà buông ra ngay thẳng rộng đầy bốn do tuần,

所有牆壁四寶所成。所謂金銀琉璃頗梨。
sở hữu tường bích tứ bảo sở thành。sở vị kim ngân lưu ly pha-lê。
bốn bức vách tường đều xây bằng các báu như vàng bạc, lưu ly , pha lê,

真金為嚮周匝欄楯。玫瑰為地金沙布上。
chân kim vi hướng châu tạp lan thuẫn。mân côi vi địa kim sa bố thượng。
vàng thật lát xung quanh lan can, đá ngọc làm đất cát vàng trải lên trên.

是宮宅中多有 七寶 流泉浴池。
thị cung trạch trung đa hữu thất bảo lưu tuyền dục trì。
Trong cung nhà có nhiều dòng suối làm ao tắm bằng bảy báu.

一一池邊各有十八黃金梯陛。 閻浮檀金 為芭蕉樹。
nhất nhất trì biên các hữu thập bát hoàng kim thê bệ。diêm-phù-đàn kim vi ba tiêu thụ。
Bên bờ mỗi mỗi ao tắm có mười tám bậc thềm thang bằng vàng kim, vàng Diêm Phù Đàn làm cây chuối,

忉利天 歡喜之園。是一一城各有八萬四千人王。
như đao lợi Thiên hoan hỉ chi viên。thị nhất nhất thành các hữu bát vạn tứ thiên nhân Vương。
giống như vườn Hoan Hỷ ở cõi trời Đao Lợi . Mỗi mỗi thành đó đều có tám vạn bốn ngàn đức vua.

一一諸王各有無量夫人婇女。
nhất nhất chư Vương các hữu vô lượng phu nhân 婇nữ。
Mỗi mỗi đức vua đều có vô lượng Phu nhân và thể nữ

共相娛樂歡喜受樂。其餘人民亦復如是。
cộng tương ngu lạc hoan hỉ thọ lạc。kỳ dư nhân dân diệc phục như thị。
cùng nhau vui thích, hoan hỷ hưởng thụ khoái lạc. Nhân dân cũng lại như vậy,

各於住處共相娛樂是中眾生不聞餘名。純聞無上 大乘 之聲。
các ư trụ xử cộng tương ngu lạc thị trung chúng sanh bất văn dư danh。thuần văn vô thượng Đại thừa chi thanh。
đều ở nơi đó cùng nhau vui thích và chúng sanh ấy không nghe tên gì khác, chỉ thuần nhất nghe tiếng của Vô thượng Đại thừa .

是諸花中一一各有師子之座。
thị chư hoa trung nhất nhất các hữu Sư-tử chi tọa。
Trong mỗi mỗi đóa hoa đều có tòa Sư tử,

其座四足皆紺琉璃。柔軟素衣以布座上。
kỳ tọa tứ túc giai cám lưu ly 。nhu nhuyễn tố y dĩ bố tọa thượng。
tòa ấy bốn chân đều bằng lưu ly xanh biếc, vải trắng mềm mại dùng để trải lên trên,

其衣微妙出過三界。一一座上有一王坐。
kỳ y vi diệu xuất quá tam giới 。nhất nhất tọa thượng hữu nhất Vương tọa。
vải ấy vi diệu căng ra vượt cả ba cõi. Trên mỗi mỗi tòa có một vị vua ngồi,

大乘 法教 化眾生。或有眾生書持讀誦如說修行。
Đại thừa Pháp giáo hóa chúng sanh。hoặc hữu chúng sanh thư trì độc tụng như thuyết tu hành。
dùng pháp Đại thừa để giáo hóa chúng sanh, hoặc có chúng sanh ghi chép, giữ gìn, đọc tụng như lời nói mà tu hành,

如是流布 大乘經 典。爾時 無邊身 菩薩
như thị lưu bố Đại thừa Kinh điển。nhĩ thời vô biên thân Bồ-tát
rồi cứ như vậy mà lưu bố rộng rãi kinh điển Đại thừa . Lúc bấy giờ Bồ-tát Vô Biên Thân

安止如是無量眾生。於自身已令捨世樂。皆作是言。
an chỉ như thị vô lượng chúng sanh。ư tự thân dĩ lệnh xả thế lạc。giai tác thị ngôn。
an chỉ cho vô lượng chúng sanh như vậy, khiến cho tự thân mỗi người muốn xả bỏ cái vui ở đời cùng nói lên rằng:

苦哉苦哉。世間空虛。 如來 不久當 般涅槃
khổ tai khổ tai。thế gian không hư。 Như-Lai bất cửu đương bát Niết-Bàn
Khổ thay, khổ thay! Thế gian trống rỗng! Như Lai không bao lâu nữa sẽ vào Niết-bàn !

爾時 無邊身 菩薩 。與無量菩薩周匝圍遶。
nhĩ thời vô biên thân Bồ-tát 。dữ vô lượng Bồ-tát châu tạp vi nhiễu。
Lúc bấy giờ Bồ-tát Vô Biên Thân cùng với vô lượng Bồ-tát nhiễu quanh giáp vòng,

示現如是 神通力 已。持是種種無量供具。
thị hiện như thị Thần thông lực dĩ。trì thị chủng chủng vô lượng cúng cụ。
thị hiện thần thông như vậy, rồi mang vô lượng các loại đồ cúng dường

及以上妙香美飲食。若有得聞是食香氣。
cập dĩ thượng diệu hương mỹ ẩm thực。nhược hữu đắc văn thị thực hương khí。
cùng với hương hoa, thức ăn vật uống thượng diệu. Nếu ai ngửi được hương thơm của hương hoa và thức ăn ấy

煩惱諸垢皆悉消滅。以是 菩薩 神通力 故。
phiền não chư cấu giai tất tiêu diệt。dĩ thị Bồ-tát Thần thông lực cố。
thì phiền não và các cấu nhiễm đều được tiêu trừ. Do thần thông lực của Bồ-tát nên

一切大眾悉皆得見如是變化 無邊身 菩薩
nhất thiết Đại chúng tất giai đắc kiến như thị biến hoá vô biên thân Bồ-tát
tất cả chúng sanh đều được thấy Bồ-tát Vô Biên Thân biến hóa

身大無邊量同虛空。
thân Đại vô biên lượng đồng hư không。
thân to lớn đến vô biên bằng với hư không,

唯除諸佛餘無能見是 菩薩 身其量邊際。爾時 無邊身 菩薩及其眷屬。
duy trừ chư Phật dư vô năng kiến thị Bồ-tát thân kỳ lượng biên tế。nhĩ thời vô biên thân Bồ-tát cập kỳ quyến chúc。
chỉ trừ ra chư Phật còn bao nhiêu không thể thấy được lượng biên tế của thân Bồ-tát . Lúc bấy giờ Bồ-tát Vô Biên thân cùng với quyến thuộc

所設供養倍勝於前。
sở thiết cúng dường bội thắng ư tiền。
thiết bày đồ cúng dường nhiều gấp bội trước,

來至佛所稽首佛足合掌恭敬白佛言。 世尊 。唯願哀愍受我等食。
lai chí Phật sở khể thủ Phật túc hợp chưởng cung kính bạch Phật ngôn。 Thế tôn 。duy nguyện ai mẩn thọ ngã đẵng thực。
đến chỗ Như Lai cúi đầu lễ chân Phật, chắp tay cung kính bạch Phật rằng: Bạch đức Thế Tôn ! Xin nguyện Như Lai thương xót nhận thức ăn của chúng con.

如來知時默然不受。如是三請悉亦不受。
Như-Lai tri thời mặc nhiên bất thọ。như thị tam thỉnh tất diệc bất thọ。
Khi Như Lai im lặng, như vậy biết không nhận, thỉnh ba lần như vậy cũng không nhận.

爾時 無邊身 菩薩 及其眷屬。却住一面。南西北方諸 佛世界
Nhĩ thời vô biên thân Bồ-tát cập kỳ quyến chúc。khước trụ nhất diện。Nam Tây Bắc phương chư Phật thế giới
Lúc bấy giờ Vô Biên Thân Bồ-tát cùng với quyến thuộc của mình đứng lùi về một bên. Chư Phật thế giới ở phương Tây, phương Nam, phương Bắc

亦有無量 無邊身 菩薩 。所持供養倍勝於前。
diệc hữu vô lượng vô biên thân Bồ-tát 。sở trì cúng dường bội thắng ư tiền。
cũng có vô lượng Vô Biên Thân Bồ-tát mang đồ cúng dường nhiều gấp bội trước

來至佛所乃至却住一面皆亦如是。
lai chí Phật sở nãi chí khước trụ nhất diện giai diệc như thị。
đến chỗ Phật, đến rồi đứng lùi về một bên đều cũng như vậy.

爾時娑羅雙樹吉祥福地。
Nhĩ thời sa-la song thụ cát tường phúc địa。
Lúc bấy giờ chỗ đất ở giữa hai cây Sa-la tốt lành

縱廣三十二 由旬 大眾充滿間無空缺。
túng quảng tam thập nhị do-tuần Đại chúng sung mãn gian vô không khuyết。
rộng ba mươi hai do tuần, đại chúng đứng đầy trong đó mà không thiếu chỗ.

爾時四方 無邊身 菩薩 及其眷屬所坐之處。或如錐頭針鋒微塵。
nhĩ thời tứ phương vô biên thân Bồ-tát cập kỳ quyến chúc sở tọa chi xử。hoặc như chùy đầu châm phong vi trần。
Lúc bấy giờ Bồ-tát Vô Biên Thân trong bốn phương cùng với quyến thuộc của mình hoặc chỉ như những mũi dùi, mũi kim nhọn, hạt bụi nhỏ ngồi ở chỗ ấy.

十方如微塵等諸 佛世界 諸大 菩薩 悉來集會。
thập phương như vi trần đẳng chư Phật thế giới chư Đại Bồ-tát tất lai tập hội。
Chư Phật thế giới và chư Đại Bồ-tát nhiều như vi trần trong mười phương hết thảy đều đến tập hội đông đủ,

閻浮提 一切大眾亦悉來集。
cập Diêm-phù-đề nhất thiết Đại chúng diệc tất lai tập。
cùng với tất cả chúng sanh ở cõi Diêm-phù-đề cũng đều đến tập hội,

唯除尊者 摩訶迦葉 阿難 二眾。 阿闍世 王及其眷屬。
duy trừ Tôn-Giả Ma-ha Ca-diếp A-nan nhị chúng 。A đồ thế Vương cập kỳ quyến chúc。
chỉ trừ hai chúng của hai Tôn giả Đại Ca-diếp Và Tôn giả A-nan . Vua A-xà-thế và quyến thuộc của vua,

乃至毒蛇視能殺人蜣蜋蝮蝎及十六種行 惡業 者。
nãi chí độc xà thị năng sát nhân khương lang phúc hạt cập thập lục chủng hành ác nghiệp giả。
cho đến rắn độc nhìn thấy người có thể giết, bọ hung, rắn rít, bọ cạp và mười sáu loài có hành nghiệp xấu ác,

一切來集。 陀那婆 神阿修羅等。
nhất thiết lai tập。đà na bà Thần A-tu-La đẳng。
tất cả đều đến tập hội. Các Thần A-tu-la như Đà-na-bà v.v..

悉捨惡念皆生慈心。如父如母如姊如妹。
tất xả ác niệm giai sanh từ tâm。như phụ như mẫu như tỉ như muội。
hết thảy đều xả bỏ tâm niệm xấu ác mà khởi từ bi tâm, giống như cha như mẹ, như chị như em

三千 大千世界 眾生。慈心相向亦復如是。除 一闡提
tam Thiên Đại Thiên thế giới chúng sanh。từ tâm tương hướng diệc phục như thị。trừ nhất xiển đề
hướng đến chúng sanh trong ba ngàn đại thiên thế giới với từ tâm cũng như vậy, chỉ trừ nhất-xiển-đề.

爾時 三千大千世界 。以佛神力故地皆柔軟。
nhĩ thời tam Thiên Đại Thiên thế giới 。dĩ Phật Thần lực cố địa giai nhu nhuyễn。
Lúc bấy giờ do thần lực của Phật nên đất trong ba ngàn đại thiên thế giới đều mềm mại,

無有丘墟土沙礫石荊棘毒草。
vô hữu khâu khư độ sa lịch thạch kinh cức độc thảo。
không có gò, mả, đất, cát, sỏi đá, cây gai, cỏ độc,

眾寶莊嚴猶如 西方 無量壽佛 極樂世界
chúng bảo trang nghiêm do như Tây phương Vô lượng thọ Phật Cực-Lạc thế giới。
mà chỉ có các báu trang nghiêm giống như cõi Tây phương thế giới Cực Lạc của Phật Vô Lượng Thọ.

是時大眾悉見 十方 如微塵等諸 佛世界 。如於明鏡自觀己身。
thị thời Đại chúng tất kiến thập phương như vi trần đẳng chư Phật thế giới 。như ư minh kính tự quán kỷ thân。
Khi ấy đại chúng đều thấy tất cả chư Phật thế giới nhiều như vi trần trong mười phương rõ như soi thấy mình trong gương sáng,

見諸 佛土 亦復如是。爾時 如來 面門所出五 色光明
kiến chư Phật độ diệc phục như thị。nhĩ thời Như-Lai diện môn sở xuất ngũ sắc quang-minh。
thấy cõi nước chư Phật cũng lại như vậy. Lúc bấy giờ gương mặt Phật phát ra ánh sáng năm màu sắc,

其光明曜覆諸大會。
kỳ quang-minh diệu phúc chư Đại hội。
ánh sáng ấy chiếu phủ khắp cả đại hội

令彼身光悉不復現所應作已還從口入。
linh bỉ thân quang tất bất phục hiện sở ứng tác dĩ hoàn tòng khẩu nhập。
khiến cho ánh sáng trên thân của các người khác hết thảy không hiện. Ánh sáng năm màu của Như Lai phát ra rồi lại trở vào trong miệng.

時諸天人及諸會眾阿修羅等。見 佛光 明還從口入。
thời chư Thiên nhân cập chư hội chúng A-tu-La đẳng。kiến Phật quang -minh hoàn tòng khẩu nhập。
Khi chư Thiên và chúng A-tu-la v.v.. mọi người trong hội thấy ánh sáng của Phật trở vào trong miệng

皆大恐怖身毛為竪。復作是言。 如來 光明出已還入。
giai Đại khủng phố thân mao vi thọ。phục tác thị ngôn。 Như-Lai quang-minh xuất dĩ hoàn nhập。
thì hết thảy đều rất sợ hãi, lông tóc dựng lên, nói lời như vầy: Ánh sáng của Như Lai xuất ra rồi lại trở vào,

非無 因緣 必於 十方 所作已辦。
phi vô nhân duyên tất ư thập phương sở tác dĩ bạn。
chẳng phải không có nhân duyên , chắc hẳn ở trong mười phương việc làm đã xong,

將是最後 涅槃 之相。何期苦哉。何期苦哉。如何 世尊
tướng thị tối hậu Niết-Bàn chi tướng。hà kỳ khổ tai。hà kỳ khổ tai。như hà Thế tôn
nên hiện tướng đó là Niết-bàn sau cùng. Thời kỳ sao mà khổ thế! Thời kỳ sao mà khổ thế! Thế Tôn sao lại như thế?

一旦捨離 四無量心 。不受人天所奉供養。
nhất đán xả ly tứ vô lượng tâm 。bất thọ nhân Thiên sở phụng cúng dường。
Một mai Thế Tôn xả bỏ Bốn tâm vô lượng, không nhận sự cúng dường của người trời,

聖慧日光從今永滅。 無上法 船於斯沈沒。
Thánh tuệ nhật quang tòng kim vĩnh diệt。vô thượng Pháp thuyền ư tư trầm một。
ánh sáng mặt trời Tuệ Thánh từ nay vĩnh viễn không còn nữa, thuyền pháp Vô thượng bị đắm chìm.

嗚呼痛哉。世間大苦。舉手搥胸悲號啼哭。
ô hô thống tai。thế gian Đại khổ。cử thủ trùy hung bi hiệu đề khốc。
Than ôi khổ thay! Thế gian khổ lớn! Rồi họ đưa tay lên đánh vào ngực kêu la khóc lóc,

支節戰動不能自持。身諸毛孔流血灑地。
chi tiết chiến động bất năng tự trì。thân chư mao khổng lưu huyết sái địa。
tay chân run rẫy không thể tự cầm được gì, các lỗ chân lông trên thân máu chảy ra lai láng trên đất.

大般 涅槃經 卷第一
Đại Bát-niết-bàn Kinh quyển đệ nhất
KINH ĐẠI BÁT NIẾT BÀN, QUYỂN THỨ NHẤT

============================================================
TUỆ QUANG 慧光 FOUNDATION http://www.daitangvietnam.com
Nguyên Tánh Trần Tiễn Khanh & Nguyên Hiển Trần Tiễn Huyến Phiên Âm và Lược Dịch Sun Apr 30 22:04:30 2006

Thích Nữ Tuệ Quảng hiệu đính lần 1. Ngộ Tùng lần 2.
============================================================
TUỆ QUANG 慧光 FOUNDATION http://www.daitangvietnam.com

Nguyên Tánh Trần Tiễn Khanh & Nguyên Hiển Trần Tiễn Huyến Phiên Âm và Lược Dịch Sun Apr 30 22:04:30 2006
Thích Nữ Tuệ Quảng hiệu đính lần 1. Ngộ Tùng lần 2.
============================================================

【經文資訊】大正新脩 大藏經 第十二冊 No. 374《 大般涅槃 經》CBETA 電子佛典 V1.29 普及版
【Kinh văn tư tấn 】Đại Chánh Tân Tu Đại Tạng Kinh đệ thập nhị sách No. 374《Đại bát Niết-bàn Kinh 》CBETA điện tử Phật Điển V1.29 phổ cập bản
【Kinh văn tư tấn 】Đại Chánh Tân Tu Đại Tạng Kinh thứ mười hai sách No. 374《Đại bát Niết-bàn Kinh 》CBETA điện tử Phật Điển V1.29 khắp cùng bản

# Taisho Tripitaka Vol. 12, No. 374 大般涅槃 經, CBETA Chinese Electronic Tripitaka V1.29, Normalized Version
# Taisho Tripitaka Vol. 12, No. 374 Đại bát Niết-bàn Kinh , CBETA Chinese Electronic Tripitaka V1.29, Normalized Version
# Taisho Tripitaka Vol. 12, No. 374 Đại bát Niết-bàn Kinh , CBETA Chinese Electronic Tripitaka V1.29, Normalized Version

=========================================================================
=========================================================================
=========================================================================

大般 涅槃經 卷第二
Đại bát Niết-bàn Kinh quyển đệ nhị
KINH ĐẠI BÁT NIẾT BÀN - QUYỂN THỨ HAI

北涼 天竺 三藏 曇無讖譯
Bắc Lương Thiên Trúc Tam Tạng Đàm Vô Sấm dịch
Đời Bắc Lương, Tam Tạng Pháp sư Đàm-vô-sấm người Thiên Trúc dịch.

壽命品第一之二
Thọ Mạng phẩm đệ nhất chi nhị
Phẩm thứ nhất, Phần hai: Thọ Mạng

爾時會中有 優婆塞 。是 拘尸那 城工巧之子。
Nhĩ thời hội trung hữu Ưu bà tắc。thị Câu-thi-na thành công xảo chi tử。
Lúc bấy giờ trong hội có Ưu-bà-tắc là người thợ khéo trong thành Câu-thi-na

名曰 純陀 。與其同類十五人俱。
danh viết Thuần-đà 。dữ kỳ đồng loại thập ngũ nhân câu。
tên là Thuần-đà, cùng với Thuần-đà có mười lăm người theo đến tập hội,

為令世間得善果故。捨身威儀從座而起。
vị linh thế gian đắc thiện quả cố。xả thân uy nghi tùng tọa nhi khởi。
vì muốn khiến cho thế gian được quả lành nên xả bỏ thân thể uy nghi rời chỗ ngồi đứng dậy,

偏袒右肩右膝著地。合掌向佛悲泣墮淚。
Thiên đản hữu kiên hữu tất trứ địa。hợp chưởng hướng Phật bi khấp đọa lệ。
hở vai bên phải, quỳ gối phải chắp tay hướng về Phật khóc lóc nước mắt rơi lả chả,

頂禮佛足而白佛言。唯願 世尊比丘 僧。哀受我等最後供養。
đính lễ Phật túc nhi bạch Phật ngôn。duy nguyện Thế tôn cập Tỳ-kheo Tăng。ai thọ ngã đẳng tối hậu cúng dường。
đảnh lễ chân Phật mà bạch Phật rằng: Xin nguyện Thế Tôn và Tỳ-kheo Tăng thương xót mà nhận sự cúng dường sau cùng của chúng con,

為度無量諸眾生故。 世尊
vị độ vô lượng chư chúng sanh cố。 Thế tôn
vì độ cho vô lượng chúng sanh. Thế Tôn !

我等從今無主無親。無救無護無歸無趣貧窮飢困。
ngã đẳng tòng kim vô chủ vô thân。vô cứu vô hộ vô quy vô thú bần cùng cơ khốn。
Chúng con từ nay sẽ không có chủ, không có người thân thích, không ai cứu, không ai giúp, không chỗ nương tựa, không đường đến, nghèo hèn, đói khát khốn khổ.

欲從 如來 求將來食。唯願哀愍受我微供。
dục tòng Như-Lai cầu tướng lai thực。duy nguyện ai mẩn thọ ngã vi cung。
Chúng con muốn theo Như Lai cầu xin thức ăn sau này, xin nguyện Ngài thương xót nhận sự cúng dường nhỏ mọn của chúng con,

然後乃入於 般涅槃世尊 。譬如剎利若 婆羅門 毘舍首陀。
nhiên hậu nãi nhập ư bát Niết-bànThế tôn 。thí như sát lợi nhược Bà-la-môn Tì-xá Thủ-đà。
rồi sau đó hãy vào Niết-bàn . Thế Tôn ! Ví như Sát-đế-lợi hoặc Bà-la-môn , hoặc Tỳ-xá, hoặc Thủ-đà La

以貧窮故遠至他國。役力農作得好調牛。
dĩ bần cùng cố viễn chí tha quốc。dịch lực nông tác đắc hảo điều ngưu。
do nghèo hèn nên phải đi xa đến nước khác, dùng sức điều khiển con trâu làm ruộng cho tốt,

良田平正。無諸沙鹵惡草株杌。唯悕天雨。
lương điền bình chánh 。vô chư sa lỗ ác thảo chu ngột。duy hi Thiên vũ。
ruộng đất tốt tươi, bằng phẳng, không có cát, đất mặn, cỏ xấu, các giống cây ác, chỉ mong trời mưa.

言調牛者喻身口七。良田平正喻於智慧。
ngôn điều ngưu giả dụ thân khẩu thất。lương điền bình chánh dụ ư trí tuệ。
Nói điều khiển con trâu ấy là dụ cho thân miệng có bảy, ruộng tốt tươi bằng phẳng ấy dụ cho trí tuệ,

除去沙鹵惡草株杌喻除 煩惱世尊
trừ khứ sa lỗ ác thảo chu ngột dụ trừ phiền nãoThế tôn
trừ bỏ cát, đất mặn, cỏ xấu, các giống cây ác dụ cho trừ diệt phiền não . Bạch đức Thế Tôn !

我今身有調牛良田除去株杌。唯悕 如來 甘露法 雨。
ngã kim thân hữu điều ngưu lương điền trừ khứ chu ngột。duy hi Như-Lai cam lộ Pháp vũ。
Thân con nay đã có điều phục được trâu, có ruộng tốt và diệt hết các giống cây xấu, chỉ mong Như Lai mưa Pháp cam lộ.

貧四姓者即我身是貧。於 無上法 之財寶。
bần tứ tánh giả tức ngã thân thị bần。ư vô thượng Pháp chi tài bảo。
Bốn họ nghèo ấy tức là chỉ cho thân con nghèo về tài sản Pháp Bảo Vô thượng.

唯願哀愍除斷我等貧窮困苦。拯及無量苦惱眾生。
duy nguyện ai mẩn trừ đoạn ngã đẳng bần cùng khốn khổ。chửng cập vô lượng khổ não chúng sanh。
Xin nguyện Như Lai thương xót mà đoạn trừ sự nghèo hèn khốn khổ nơi chúng con và cứu vớt cho vô lượng chúng sanh đang chịu khổ não.

我今所供雖復微少冀得充足 如來 大眾。
ngã kim sở cung tuy phục vi thiểu kí đắc sung túc Như-Lai Đại chúng。
Đồ cúng dường của con nay tuy ít ỏi nhưng mong được no đủ cho cả Như Lai và đại chúng.

我今無主無親無歸。願垂矜愍如 羅睺羅
ngã kim vô chủ vô thân vô quy。nguyện thùy căng mẫn như La-hầu-la
Con nay không chủ, không thân thích, không nơi nương tựa, nguyện xin rủ lòng thương xót giống như La-hầu-la .

爾時 世尊 一切種智無上調御告 純陀 曰。
nhĩ thời Thế Tôn nhất thiết chủng trí vô thượng điều ngự cáo Thuần-đà viết。
Lúc bấy giờ tất cả Chủng trí Vô thượng Điều ngự của Thế Tôn nói với Thuần-đà rằng:

善哉善哉。我今為汝除斷貧窮。
Thiện tai Thiện tai。ngã kim vi nhữ trừ đoạn bần cùng。
Hay thay, Hay thay! Nay Ta sẽ vì ngươi mà đoạn trừ sự nghèo khổ.

無上法雨雨汝身田令生 法芽
vô thượng Pháp vũ vũ nhữ thân điền lệnh sanh Pháp nha。
Mưa pháp Vô thượng sẽ mưa trên ruộng thân ngươi khiến cho sanh mầm pháp.

汝今於我欲求壽命色力安辯。我當施汝常命色力安無礙辯。
nhữ kim ư ngã dục cầu thọ mạng sắc lực an biện。ngã đương thí nhữ thường mạng sắc lực an vô ngại biện。
Ngươi nay muốn cầu ở Ta thọ mạng, sức lực, an ổn, biện tài. Ta sẽ cho ngươi sống lâu, sức lực an ổn và biện tài vô ngại.

何以故。 純陀 。施食有二 果報 無差。何等為二。
Hà dĩ cố。Thuần-đà。thí thực hữu nhị quả báo vô sái。hà đẳng vi nhị。
Vì sao vậy? Thuần-đà! Bố thí thức ăn có hai quả báo không sai. Những gì là hai?

一者受已得阿耨多羅三藐三 菩提
Nhất giả thọ dĩ đắc A-nậu-đa-la-tam-miệu-tam Bồ-đề
Một là thọ rồi sẽ đắc Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác .

二者受已入於 涅槃 。我今受汝最後供養。
Nhị giả thọ dĩ nhập ư Niết-bàn 。ngã kim thọ nhữ tối hậu cúng dường。
Hai là thọ rồi sẽ vào Niết-bàn . Nay Ta thọ nhận sự cúng dường sau cùng của ngươi,

令汝具足 檀波羅蜜 。爾時 純陀 即白佛言。
lệnh nhữ cụ túc đàn Ba-la-mật 。Nhĩ thời Thuần-đà tức bạch Phật ngôn。
khiến cho ngươi được đầy đủ bố thí Ba-la-mật . Lúc bấy giờ Thuần-đà liền bạch Phật rằng:

如佛所說二施 果報 無差別者。是義不然。何以故。
như Phật sở thuyết nhị thí quả báo vô sai biệt giả。thị nghĩa bất nhiên。hà dĩ cố。
Như chỗ Phật nói bố thí có hai quả báo không sai biệt, nghĩa không như vậy. Vì sao?

先受施者 煩惱 未盡。未得成就一切種智。
tiên thọ thí giả phiền não vị tận。vị đắc thành tựu nhất thiết chủng trí。
Trước tiên người nhận sự bố thí ấy chưa hết phiền não , chưa được thành tựu tất cả các loại trí,

亦未能令眾生具足 檀波羅蜜 。後受施者 煩惱 已盡。
diệc vị năng lệnh chúng sanh cụ túc đàn Ba-la-mật 。hậu thọ thí giả phiền não dĩ tận。
cũng chưa có thể khiến cho chúng sanh đầy đủ bố thí Ba-la-mật . Sau cùng là người nhận sự bố thí ấy đã sạch hết phiền não ,

已得成就一切種智。
dĩ đắc thành tựu nhất thiết chủng trí。
đã được thành tựu tất cả các loại trí,

能令眾生普得具足 檀波羅蜜 。先受施者直是眾生。
năng lệnh chúng sanh phổ đắc cụ túc đàn Ba-la-mật 。tiên thọ thí giả trực thị chúng sanh。
có thể khiến cho chúng sanh đủ khắp bố thí Ba-la-mật . Người trước tiên nhận sự bố thí đó chính là chúng sanh.

後受施者是 天中天 。先受施者是雜食身 煩惱 之身。
hậu thọ thí giả thị Thiên trung Thiên。tiên thọ thí giả thị tạp thực thân phiền não chi thân。
Người nhận sự bố thí ở sau chính là bậc Thiên Trung Thiên . Người nhận sự bố thí trước đó là thân ăn thức ăn tạp, là thân phiền não .

是後邊身是 無常 身。後受施者無 煩惱 身金剛之身。
thị hậu biên thân thị vô thường thân。hậu thọ thí giả vô phiền não thân Kim cương chi thân。
sau thân đó có bờ mé, là thân vô thường . Người nhận sự bố thí ở sau là thân không phiền não , là thân Kim cương,

法身常身無邊之身。
Pháp thân thường thân vô biên chi thân。
Là pháp thân, thường thân, vô biên thân ,

云何而言二施 果報 等無差別。
vân hà nhi ngôn nhị thí quả báo đẳng vô sai biệt。
sao mà nói bố thí có hai quả báu bằng nhau không sai biệt được?

先受施者未能具足 檀波羅蜜 乃至 般若波羅蜜 。唯得肉眼未得 佛眼 乃至慧眼。
tiên thọ thí giả vị năng cụ túc đàn Ba-la-mật nãi chí Bát-nhã Ba-la-mật 。duy đắc nhục nhãn vị đắc Phật nhãn nãi chí tuệ nhãn。
Người nhận sự bố thí đầu tiên chưa có thể đầy đủ bố thí Ba-la-mật cho đến chưa được Bát-nhã Ba-la-mật , chỉ được mắt thịt, chưa được nhục nhãn, chưa được Phật nhãn cho đến Tuệ nhãn.

後受施者已得具足 檀波羅蜜 乃至般若波羅
hậu thọ thí giả dĩ đắc cụ túc đàn Ba-la-mật nãi chí Bát-nhã ba la
Người nhận sự bố thí ở sau đã được đầy đủ Bố thí Ba-la-mật cho đến Bát-nhã Ba-la-mật ,

蜜。具足 佛眼 乃至慧眼。
mật。cụ túc Phật nhãn nãi chí tuệ nhãn。
đầy đủ Phật nhãn cho đến Tuệ nhãn.

云何而言二施 果報 等無差別。 世尊
vân hà nhi ngôn nhị thí quả báo đẳng vô sai biệt。 Thế tôn
Vì sao mà nói bố thí có hai quả báo bằng nhau không sai biệt được? Bạch đức Thế Tôn !

先受施者受已食噉入腹消化。得命得色得力得安得無礙辯。
tiên thọ thí giả thọ dĩ thực đạm nhập phúc tiêu hóa。đắc mạng đắc sắc đắc lực đắc an đắc vô ngại biện。
Người đầu tiên nhận sự bố thí ấy đã ăn, nuốt vào bụng rồi tiêu hóa, được mạng, được sắc, được sức, được an, được vô ngại biện tài.

後受施者不食不消無五事果。
hậu thọ thí giả bất thực bất tiêu vô ngũ sự quả 。
Người nhận sự bố thí ở sau không ăn, không tiêu, không có kết quả của năm việc.

云何而言二施 果報 等無差別。
vân hà nhi ngôn nhị thí quả báo đẳng vô sai biệt。
Vì sao mà nói bố thí có hai quả báo ngang nhau không sai biệt?

佛言。 善男子如來 已於 無量無邊阿僧祇劫
Phật ngôn。thiện nam tử。 Như-Lai dĩ ư vô lượng vô biên a tăng kì kiếp
Phật dạy: Thiện nam tử ! Như Lai đã ở trong Vô lượng vô biên A-tăng-kỳ kiếp

無有食身 煩惱 之身。
vô hữu thực thân phiền não chi thân。
không có thân ăn uống, không có thân phiền não ,

無後邊身常身 法身 金剛之身。 善男子
vô hậu biên thân thường thân Pháp thân Kim cương chi thân。thiện nam tử。
mà chỉ có Vô biên thân, Thường thân, Pháp thân , Kim cương thân. Thiện nam tử !

見佛 性者名 煩惱 身雜食之身。
vị kiến Phật tánh giả danh phiền não thân tạp thực chi thân。
Người chưa thấy được Phật tánh gọi là phiền não thân, thân ăn uống tạp,

是後邊身 菩薩 爾時受飲食已入金剛 三昧
thị hậu biên thân Bồ-tát nhĩ thời thọ ẩm thực dĩ nhập Kim cương tam muội
đó là thân sau của Bồ-tát lúc bấy giờ thọ nhận thức ăn uống rồi vào Kim cương Tam muội.

此食消已即 見佛 性得阿耨多羅三藐三 菩提 。是故我言二施 果報 等無差別。
thử thực tiêu dĩ tức kiến Phật tánh đắc A-nậu-đa-la-tam-miệu-tam Bồ-đề 。thị cố ngã ngôn nhị thí quả báo đẳng vô sai biệt。
Thức ăn này tiêu rồi liền thấy Phật tánh, đắc Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác . Vì vậy Ta nói hai sự bố thí đó có quả báo ngang nhau không sai biệt.

菩薩爾時破壞四魔。今 入涅槃 亦破四魔。
Bồ-tát nhĩ thời phá hoại tứ ma。kim nhập Niết-bàn diệc phá tứ ma。
Bồ-tát lúc bấy giờ phá hoại bốn ma, nay vào Niết-bàn cũng phá hoại bốn ma.

是故我言二施 果報 等無差別。
thị cố ngã ngôn nhị thí quả báo đẳng vô sai biệt。
Vì vậy Ta nói hai sự bố thí có quả báo ngang nhau không sai biệt.

菩薩爾時雖不廣說 十二部經 先已通達。
Bồ-tát nhĩ thời tuy bất quảng thuyết thập nhị bộ Kinh tiên dĩ thông đạt。
Bồ-tát lúc bấy giờ tuy không rộng nói mười hai bộ Kinh nhưng trước hết đã có thông đạt rồi,

入涅槃 廣為眾生分別演說。是故我言二施 果報 等無差別。
kim nhập Niết-bàn quảng vị chúng sanh phân biệt diễn thuyết。thị cố ngã ngôn nhị thí quả báo đẳng vô sai biệt。
nay vào Niết-bàn rộng vì chúng sanh phân biệt tuyên thuyết rộng rãi. Vì vậy Ta nói hai sự bố thí ấy có qủa báo ngang nhau không sai biệt.

善男子。 如來 之身已於無量 阿僧祇 劫不受飲食。
thiện nam tử。 Như-Lai chi thân dĩ ư vô lượng a tăng kì kiếp bất thọ ẩm thực。
Thiện nam tử! Thân Như Lai đã ở trong vô lượng kiếp không thọ sự ăn uống

為諸 聲聞 說言。
vị chư Thanh văn thuyết ngôn。
nhưng vì các vị Thanh văn nên nói rằng

先受 難陀 難陀波羅二牧牛女所奉乳糜。
tiên thọ Nan-đà Nan-đà ba la nhị mục ngưu nữ sở phụng nhũ mi。
trước tiên là thọ nhận bát cháo sữa của hai cô gái chăn trâu là Nan-đà và Nan-đà Ba La hiến cúng,

然後乃得阿耨多羅三藐三 菩提 。我實不食。我今為於此會大眾。
nhiên hậu nãi đắc A-nậu-đa-la-tam-miệu-tam Bồ-đề 。ngã thật bất thực。ngã kim vị ư thử hội Đại chúng。
rồi sau đó mới đắc Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác , nhưng thật sự thì Ta không hề ăn. Nay Ta vì đại chúng trong hội này

是故受汝最後所奉。實亦不食。
thị cố thọ nhữ tối hậu sở phụng。thật diệc bất thực。
nên nhận sự hiến cúng sau cùng của ngươi, thật sự cũng không hề ăn.

爾時大眾聞 佛世尊 普為大會受於 純陀 最後
nhĩ thời Đại chúng văn Phật Thế tôn phổ vị Đại hội thọ ư Thuần-đà tối hậu
Lúc báy giờ đại chúng nghe Phật Thế Tôn khắp vì đại hội mà nhận sự hiến cúng sau cùng của Thuần-đà

供養。歡喜踊躍同聲讚言。善哉善哉。
cúng dường。hoan hỉ dũng dược đồng thanh tán ngôn。Thiện tai Thiện tai。
thì hoan hỷ hớn hở đồng cất lên tiếng tán thán rằng: Hay thay, Hay thay,

希有 純陀 。汝今立字名不虛稱言。
hi hữu Thuần-đà。nhữ kim lập tự danh bất hư xưng ngôn。
hy hữu thay Thuần-đà! Ông nay đã dựng nên tên tuổi không sai với lời xưng.

純陀者名解妙義。汝今建立如是 大義 。是故依實從義立名。
Thuần-đà giả danh giải diệu nghĩa。nhữ kim kiến lập như thị Đại nghĩa。thị cố y thật tòng nghĩa lập danh。
Tên Thuần-đà ấy giải nghĩa ra là diệu nghĩa. Ông nay đã gây dựng nên nghĩa lớn, vì vậy nương theo nghĩa thật mà thành lập nên cái tên,

故名 純陀 。汝今現世得 大名 利德願滿足。
cố danh Thuần-đà。nhữ kim hiện thế đắc Đại danh lợi đức nguyện mãn túc。
nên gọi là Thuần-đà. Ông nay hiện đời được danh lợi lớn, đức nguyện được tròn đầy,

甚奇 純陀 。生在人中復得難得無上之利。
thậm kì Thuần-đà。sanh tại nhân trung phục đắc nan đắc vô thượng chi lợi。
rất kỳ lạ Thuần-đà! Đã được sanh trong loài người, lại được cái khó được là lợi vô thượng.

善哉 純陀 。如 優曇 花世間希有。
Thiện tai Thuần-đà。như Ưu- đàm hoa thế gian hi hữu 。
Hay thay Thuần-đà! Như hoa Ưu-đàm trong đời khó có.

佛出於世亦復甚難。值佛生信聞法復難。佛臨 涅槃 最後供養。
Phật xuất ư thế diệc phục thậm nan。trị Phật sanh tín văn Pháp phục nan。Phật lâm Niết-bàn tối hậu cúng dường。
Phật xuất hiện ở thế gian cũng rất khó, sanh gặp thời Phật, tin, nghe pháp lại khó hơn, Phật sắp Niết-bàn cúng dường lần sau cuối,

能辨是事復難於是。 南無 純陀 。南無純陀。
năng biện thị sự phục nan ư thị。Mam-mô Thuần-đà。Mam-mô Thuần-đà。
có thể biện luận lại là việc khó hơn nữa. Mam-mô Thuần-đà! Mam-mô Thuần-đà!

汝今已具 檀波羅蜜 。猶如秋月十五日夜。
nhữ kim dĩ cụ đàn Ba-la-mật 。do như thu nguyệt thập ngũ nhật dạ。
Ông nay đã đầy đủ Bố thí Ba-la-mật giống như đêm trăng rằm mùa Thu

清淨圓滿無諸雲翳。一切眾生無不瞻仰。
thanh tịnh viên mãn vô chư vân ế。nhất thiết chúng sanh vô bất chiêm ngưỡng。
trong sáng tròn đầy không mây lởn vởn. Tất cả chúng sanh không ai mà chẳng thích ngắm nhìn,

汝亦如是。而為我等之所瞻仰。
nhữ diệc như thị。nhi vi ngã đẳng chi sở chiêm ngưỡng。
ông cũng như vậy mà làm chỗ cho chúng tôi ngắm nhìn.

佛已受汝最後供養。令汝具足 檀波羅蜜南無 純陀
Phật dĩ thọ nhữ tối hậu cúng dường。linh nhữ cụ túc đàn Ba-la-mật 。Mam-mô Thuần-đà。
Phật đã thọ nhận sự cúng dường sau cùng của ông, khiến cho ông đầy đủ Bố thí Ba-la-mật . Mam-mô Thuần-đà!

是故說汝如月盛滿。一切眾生無不瞻仰。 南無 純陀
thị cố thuyết nhữ như nguyệt thịnh mãn 。nhất thiết chúng sanh vô bất chiêm ngưỡng 。Mam-mô Thuần-đà 。
Vì vậy mà nói ông giống như trăng rằm tròn đầy, tất cả chúng sanh không ai mà chẳng thích ngắm nhìn. Mam-mô Thuần-đà!

雖受人身心如 佛心 。汝今 純陀 。真是佛子。
tuy thọ nhân thân tâm như Phật tâm 。nhữ kim Thuần-đà。chân thị Phật tử 。
Tuy thọ thân người nhưng tâm giống tâm Phật. Thuần-đà! Ông nay đã thật sự là con của Phật

羅睺羅 等無有異。爾時大眾即說偈言。
như La-hầu-la đẳng vô hữu dị。nhĩ thời Đại chúng tức thuyết kệ ngôn 。
như La-hầu-la không khác. Lúc bấy giờ đại chúng liền nói kệ rằng:

汝雖生人道   已超第六天
Nhữ tuy sanh nhân đạo    Dĩ siêu đệ lục Thiên
Ông tuy sanh cõi người Vượt quá Trời thứ sáu

我及一切眾   今故稽首請
Ngã cập nhất thiết chúng    Kim cố khể thủ thỉnh
Ta cùng tất cả chúng Nay cúi đầu cầu thỉnh

人中 最勝尊    今當 入涅槃
Nhân trung tối thắng tôn    Kim đương nhập Niết-bàn
Bậc Tối Tôn loài người Nay sẽ vào Niết-bàn

汝應愍我等   唯願速請佛
Nhữ ứng mẫn ngã đẳng    Duy nguyện tốc thỉnh Phật
Ông thương dùm chúng tôi Mong nhanh đến thỉnh Phật

久住於世間   利益無量眾
Cửu trụ ư thế gian    Lợi ích vô lượng chúng
Trụ lâu ở cõi đời Lợi ích vô lượng chúng

演說智所讚   無上 甘露法
Diễn thuyết trí sở tán    Vô thượng cam lộ Pháp
Diễn thuyết trí xưng tán Vô thượng pháp cam lộ

汝若不請佛   我命將不全
Nhữ nhược bất thỉnh Phật    Ngã mạng tướng bất toàn
Ông nếu không thỉnh Phật Mạng tôi sắp không còn

是故應見為   稽請 調御師
Thị cố ứng kiến vi    Khể thỉnh điều ngự sư
Vì vậy nên thấy đó Cúi thỉnh đấng Ngự Sư.

爾時 純陀 歡喜踊躍。
Nhĩ thời Thuần-đà hoan hỉ dũng dược。
Lúc bấy giờ Thuần-đà hoan hỷ hớn hở

譬如有人父母卒喪忽然還活。 純陀 歡喜亦復如是。復起禮佛。
thí như hữu nhân phụ mẫu tốt tang hốt nhiên hoàn hoạt。Thuần-đà hoan hỉ diệc phục như thị。phục khởi lễ Phật。
giống như người mà có cha mẹ mất bỗng nhiên sống trở lại. Thuần-đà hoan hỷ cũng lại như vậy, lại đứng dậy lễ Phật

而說偈言。
nhi thuyết kệ ngôn 。
mà nói kệ rằng:

快哉獲己利   善得於人身
Khoái tai hoạch kỷ lợi    Thiện đắc ư nhân thân
Vui thay con được lợi Hay thay được thân người

蠲除貪恚等   永離 三惡道
Quyên trừ tham khuể đẳng    Vĩnh ly tam ác đạo
Diệt hết các tham sân v.v... Mãi xa ba đường ác 

快哉獲己利   遇得金寶聚
Khoái tai hoạch kỷ lợi    Ngộ đắc kim bảo tụ
Vui thay đã được lợi Gặp được vàng bảo tụ

值遇 調御師    不懼墮畜生
Trị ngộ điều ngự sư    Bất cụ đọa súc sanh
Gặp đấng Điều Ngự Sư Chẳng lo đọa súc sanh

佛如 優曇 花   值遇生信難
Phật như Ưu- đàm hoa    Trị ngộ sanh tín nan
Phật như hoa Ưu-đàm Sanh gặp tin khó hơn

遇已種善根   永離 餓鬼
Ngộ dĩ chủng thiện căn    Vĩnh ly ngạ quỷ khổ
Gặp rồi gieo căn lành Xa hẳn khổ ngạ quỷ

亦復能損減   阿修羅種類
Diệc phục năng tổn giảm    A-tu-La chủng loại
Cũng còn năng giảm bớt Giống loài A Tu La

芥子投針鋒   佛出難於是
Giới tử đầu châm phong    Phật xuất nan ư thị
Hạt cải ném đầu kim Phật ra đời khó vậy

我以具足檀   度人天生死
Ngã dĩ cụ túc đàn    Độ nhân Thiên sanh tử
Con dùng Cụ túc đàn Độ người Trời sanh tử

佛不染世法   如 蓮花 處水
Phật bất nhiễm thế Pháp    Như liên hoa xử thủy
Phật không nhiễm pháp thế Như hoa sen trong nước

善斷有頂種   永度生死流
Thiện đoạn hữu đỉnh chủng    Vĩnh độ sanh tử lưu
Khéo đoạn đến gốc ngọn Độ thoát dòng sanh tử

生世為人難   值 佛世 亦難
Sanh thế vi nhân nan    Trị Phật thế diệc nan
Sanh làm người là khó Đời gặp Phật cũng khó

猶如大海中   盲龜遇浮孔
Do như Đại hải trung    Manh quy ngộ phù khổng
Giống như trong biển lớn Rùa mù gặp bộng cây

我今所奉食   願得無上報
Ngã kim sở phụng thực    Nguyện đắc vô thượng báo
Con nay cúng thức ăn Nguyện được Vô thượng báo

一切 煩惱 結   摧破不 堅牢
Nhất thiết phiền não kết    Tồi phá bất kiên lao
Tất cả phiền não kết Bẻ phá chẳng cứng bền

我今於此處   不求天人身
Ngã kim ư thử xử    Bất cầu Thiên nhơn thân
Con nay ở cõi này Không cầu thân Trời người

設使得之者   心亦不甘樂
Thiết sử đắc chi giả    Tâm diệc bất cam lạc
Giả sử được thân ấy Tâm cũng chẳng được vui

如來受我供   歡喜無有量
Như-Lai thọ ngã cung    Hoan hỉ vô hữu lượng
Như Lai nhận con cúng Hoan hỷ không hạn lượng

猶如伊蘭花   出於栴檀香
Do như y lan hoa    Xuất ư chiên đàn hương
Giống như hoa y lan Xuất ở Chiên đàn hương

我身如伊蘭   如來 受我供
Ngã thân như y lan    Như-Lai thọ ngã cung
Thân con như y lan Như Lai nhận con cúng

如出栴檀香   是故我歡喜
Như xuất chiên đàn hương    Thị cố ngã hoan hỉ
Như xuất Chiên đàn hương Vì vậy con hoan hỷ

我今得現報   最勝上妙處
Ngã kim đắc hiện báo    Tối thắng thượng diệu xứ
Con nay được hiện báo Chỗ tối thắng thượng diệu

釋梵諸天等   悉來供養我
Thích phạm chư Thiên đẳng    Tất lai cúng dường ngã
Phạm thích cùng chư Thiên Đều đến cúng dường con

一切諸世間   悉生諸苦惱
Nhất thiết chư thế gian    Tất sanh chư khổ não
Hết thảy người thế gian Đều sanh các khổ não

以知 佛世尊    欲入於 涅槃
Dĩ tri Phật Thế tôn    Dục nhập ư Niết-bàn
Do biết Phật Thế Tôn Muốn vào ở Niết-bàn

高聲唱是言   世間無調御
Cao thanh xướng thị ngôn    Thế gian vô điều ngự
Cao tiếng xướng lời rằng Thế gian không Điều Ngự

不應捨眾生   應視如一子
Bất ứng xả chúng sanh    Ứng thị như nhất tử
Sao đành bỏ chúng sanh Hãy xem như con một

如來在僧中   演說 無上法
Như Lai tại tăng trung    Diễn thuyết vô thượng Pháp
Như Lai trong Tăng chúng Thường nói pháp Vô thượng

須彌 寶山   安處于大海
Như Tu-Di bảo sơn    An xứ vu Đại hải
Như núi báu Tu Di Ở an như biển lớn

佛智能善斷   我等無明闇
Phật trí năng thiện đoạn    Ngã đẳng vô minh ám
Trí Phật hay khéo đoạn Vô minh của chúng con

猶如虛空中   起雲得清涼
Do như hư không trung    Khởi vân đắc thanh lương
Giống như giữa hư không Mây trôi được trong mát

如來能善除   一切諸 煩惱
Như Lai năng thiện trừ    Nhất thiết chư phiền não
Như Lai hay khéo trừ Tất cả các phiền não

猶如日出時   除雲光普照
Do như nhật xuất thời    Trừ vân quang phổ chiếu
Như khi mặt trời mọc Xua mây sáng chiếu khắp

是諸眾生等   啼泣面目腫
Thị chư chúng sanh đẳng    Đề khấp diện mục thũng
Nay các chúng sanh ấy Khóc lóc mặt mắt sưng

悉皆為生死   苦水之所漂
Tất giai vi sanh tử    Khổ thủy chi sở phiêu
Tất cả vì sanh tử Nổi trôi trong biển khổ

以是故 世尊    應長眾生信
Dĩ thị cố Thế tôn    Ứng trường chúng sanh tín
Do vậy mà Thế Tôn Khiến chúng sanh khởi tín

為斷生死苦   久住於世間
Vị đoạn sanh tử khổ    Cửu trụ ư thế gian
Vì đoạn khổ sanh tử Trụ lâu ở cõi đời.

佛告 純陀 。如是如是。如汝所說。
Phật cáo Thuần-đà。như thị như thị。như nhữ sở thuyết。
Phật dạy Thuần-đà: Đúng vậy, đúng vậy! Như chỗ ngươi nói

佛出世難如 優曇 花。值佛生信亦復甚難。
Phật xuất thế nan như Ưu- đàm hoa 。trị Phật sanh tín diệc phục thậm nan。
Phật ra đời khó như hoa Ưu-đàm, sanh gặp thời Phật rồi tin Phật lại rất khó,

佛臨 涅槃 最後施食。能具足檀復倍甚難。汝今 純陀
Phật lâm Niết-bàn tối hậu thí thực。năng cụ túc đàn phục bội thậm nan。nhữ kim Thuần-đà。
Phật sắp Niết-bàn mà cúng bữa ăn sau cùng có cụ túc Bố thí Ba-la-mật lại càng khó gấp bội. Thuần-đà! Ông nay

莫大愁苦應生踊躍喜自慶幸。
mạc Đại sầu khổ ứng sanh dũng dược hỉ tự khánh hạnh。
chớ quá sầu khổ mà hãy nên vui mừng hớn hở về hạnh phúc của chính mình,

得值最後供養 如來 。成就具足 檀波羅蜜
đắc trị tối hậu cúng dường Như-Lai 。thành tựu cụ túc đàn Ba-la-mật
được cúng dường Như Lay lần sau cuối, thành tựu cụ túc Bố thí Ba-la-mật

不應請佛久住於世。汝今當觀諸 佛境 界悉皆 無常
bất ứng thỉnh Phật cửu trụ ư thế。nhữ kim đương quán chư Phật cảnh giới tất giai vô thường
không nên thỉnh Phật trụ lâu ở đời. Ngươi nay phải quán sát hết thảy cảnh giới của Phật đều Vô thường,

諸行性相亦復如是。即為 純陀 。而說偈言。
chư hành tánh tướng diệc phục như thị。tức vị Thuần-đà。nhi thuyết kệ ngôn。
các hành, tánh, tướng cũng lại như vậy. Thế Tôn liền vì Thuần-đà mà nói kệ rằng:

一切諸世間   生者皆歸死
Nhất thiết chư thế gian    Sanh giả giai quy tử
Hết thảy các thế gian Sanh rồi đều phải tử

壽命雖無量   要必當有盡
Thọ mạng tuy vô lượng    Yếu tất đương hữu tận
Thọ mạng dẫu vô lượng Cuối cùng rồi phải hết

夫盛必有衰   合會有別離
Phù thịnh tất hữu suy    Hợp hội hữu biệt ly
Hễ thịnh ắt có suy Có hợp thì có tan

壯年不久停   盛色病所侵
Tráng niên bất cửu đình    Thịnh sắc bệnh sở xâm
Mạnh khỏe chẳng giữ lâu Sắc đẹp bệnh lấn chiếm

命為死所吞   無有法常者
Mạng vi tử sở thôn    Vô hữu Pháp thường giả
Mạng là thần chết nuốt Pháp ấy không có thường

諸王得自在   勢力無等雙
Chư Vương đắc tự-tại    Thế lực vô đẳng song
Các vua được tự tại Thế lực chẳng ai bằng

一切皆遷動   壽命亦如是
Nhất thiết giai Thiên động    Thọ mạng diệc như thị
Hết thảy đều chuyển dời Thọ mạng cũng như vậy

眾苦輪無際   流轉無休息
Chúng khổ luân vô tế    Lưu chuyển vô hưu tức
Bánh xe khổ vô tế Lưu chuyển mãi chẳng dừng

三界皆 無常    諸有無有樂
Tam giới giai vô thường    Chư hữu vô hữu lạc
Ba cõi đều Vô thường Các hữu chẳng có vui

有道本性相   一切皆 空無
Hữu đạo bổn tánh tướng    Nhất thiết giai không vô
Có đạo, bổn tánh, tướng Hết thảy đều rỗng không

可壞法流轉   常有憂患等
Khả hoại Pháp lưu chuyển    Thường hữu ưu hoạn đẳng
Có thể phá pháp chuyển Thường có sầu não lo

恐怖諸過惡   老病死衰惱
Khủng phố chư quá ác    Lão bệnh tử suy não
Sợ hãi các tội ác Già bệnh chết suy não

是諸無有邊   易壞怨所侵
Thị chư vô hữu biên    Dịch hoại oán sở xâm
Chúng là không bờ bến Dễ hoại chỗ oán lấn

煩惱所纏裹   猶如蠶處繭
Phiền não sở triền khoả    Do như tàm xử kiển
Phiền não chỗ trói buộc Như chỗ tằm làm kén

何有智慧者   而當樂是處
Hà hữu trí tuệ giả    Nhi đương lạc thị xứ
Sao người có trí tuệ Mà ưa thích chỗ đó?

此身苦所集   一切皆不淨
Thử thân khổ sở tập    Nhất thiết giai bất tịnh
Thân này chỗ khổ tập Hết thảy đều không sạch

扼縛癰瘡等   根本無義利
Ách phược ung sang đẳng    Căn bản vô nghĩa lợi
Các bệnh ung nhọt trói Căn bổn không nghĩa lợi

上至諸天身   皆亦復如是
Thượng chí chư Thiên thân    Giai diệc phục như thị
Từ trên thân chư Thiên Đều cũng lại như vậy

諸欲皆 無常    故我不貪著
Chư dục giai vô thường Cố ngã bất tham trước
Các dục đều Vô thường Nên ta chẳng tham đắm

離欲善思惟   而證於真實
Ly dục thiện tư duy    Nhi chứng ư chân thật
Ly dục khéo tư duy Mà chứng ở chân thật

究竟斷有者   今日當 涅槃
Cứu cánh đoạn hữu giả    Kim nhật đương Niết-bàn
Rốt ráo đoạn hữu ấy Hôm nay sẽ Niết-bàn

我度有彼岸   已得過諸苦
Ngã độ hữu bỉ ngạn    Dĩ đắc quá chư khổ
Ta đến bờ bên kia Đã vượt qua các khổ

是故於今者   純受上妙樂
Thị cố ư kim giả    Thuần thọ thượng diệu lạc
Vì vậy ở hôm nay Thọ thuần lạc thượng diệu

以是 因緣 故   證無戲論邊
dĩ thị nhân duyên cố    chứng vô hí luận biên
nhân duyên như vậy Chứng vô biên hý luận

永斷諸纏縛   今日 入涅槃
Vĩnh đoạn chư triền phược    Kim nhật nhập Niết-bàn
Vĩnh viễn đoạn các phược Hôm nay vào Niết-bàn

我無老病死   壽命不可盡
Ngã vô lão bệnh tử    Thọ mạng bất khả tận
Ta không già bệnh chết Thọ mạng không thể tận

我今 入涅槃    猶如大火滅
Ngã kim nhập Niết-bàn    Do như Đại hỏa diệt
Ta nay vào Niết-bàn Như tắt ngọn lửa lớn

純陀汝不應   思量 如來
Thuần-đà nhữ bất ứng    Tư lượng Như-Lai nghĩa
Thuần-đà ngươi chớ nên Suy lường nghĩa Như Lai

當觀 如來 住   猶如 須彌山
Đương quán Như-Lai trụ    Do như Tu-Di sơn
Phải quán Như Lai trụ Giống như núi Tu Di

我今 入涅槃    受於第一樂
Ngã kim nhập Niết-bàn    Thọ ư đệ nhất lạc
Ta nay vào Niết-bàn Thọ ở đệ nhất lạc

佛法 如是   不應復啼哭
Chư Phật Pháp như thị    Bất ứng phục đề khốc
Chư Phật Pháp như vậy Chẳng nên lại khóc than.

爾時 純陀 白佛言。 世尊 。如是如是。
Nhĩ thời Thuần-đà bạch Phật ngôn。 Thế tôn 。như thị như thị。
Lúc bấy giờ Thuần-đà bạch Phật rằng: Bạch đức Thế Tôn ! Đúng vậy, đúng vậy!

誠如聖教。我今所有智慧微淺猶如蚊虻。
thành như Thánh giáo。ngã kim sở hữu trí tuệ vi thiển do như văn manh。
Thật đúng như lời Thánh dạy! Trí tuệ của con nay hẹp hòi nông cạn giống như muỗi nhặng,

何能思議 如來 涅槃 深奧之義。 世尊
hà năng tư nghị Như-Lai Niết-bàn thâm áo chi nghĩa。 Thế tôn
sao có thể tư nghì về nghĩa thâm áo Niết-bàn của Như Lai . Bạch đức Thế Tôn !

我今已與諸大 龍象 菩薩 摩訶薩。
ngã kim dĩ dữ chư Đại long tượng Bồ-tát Ma-ha -tát。
Con nay đã cùng với các Đại Long Tượng Bồ-tát Ma-ha -tát như

斷諸結漏 文殊師利 法王子 等。 世尊 。譬如幼年初得出家。
đoạn chư kết lậu Văn-thù-sư-lợi Pháp-Vương-Tử đẳng。 Thế tôn 。thí như ấu niên sơ đắc xuất gia。
Văn-thù-sư-lợi Pháp Vương Tử v.v.. để đoạn trừ các lậu hoặc trói buộc. Thế Tôn ! Thí như người trẻ tuổi mới xuất gia

雖未受具即墮僧數。我亦如是。以佛 菩薩 神通力 故。
tuy vị thọ cụ tức đọa tăng số。ngã diệc như thị。dĩ Phật Bồ-tát Thần thông lực cố。
tuy chưa thọ Cụ túc giới nhưng liền được cho vào trong Tăng số. Con cũng như vậy. nhờ thần thong, oai lực của Phật và Bồ-tát nên

得在如是大 菩薩 數。
đắc tại như thị Đại Bồ-tát số。
được ở trong số chúng Bồ-tát lớn

是故我今欲令 如來 久住於世不 入涅槃 。譬如飢人終無變吐。
thị cố ngã kim dục lệnh Như-Lai cửu trụ ư thế bất nhập Niết-bàn 。thí như cơ nhân chung vô biến thổ。
Vì vậy con nay muốn Như Lai sống lâu ở đời đừng vào Niết-bàn , giống như người đói khát, không có gì để bỏ ra.

願使 世尊 亦復如是。常住於世不 入涅槃
nguyện sử Thế tôn diệc phục như thị。thường trụ ư thế bất nhập Niết-bàn
Con nguyện mong Thế Tôn cũng lại như vậy, thường trụ ở thế gian chớ có vào Niết-bàn .

爾時 文殊師利 法王子純陀 言。純陀。
nhĩ thời Văn-thù-sư-lợi Pháp-Vương-Tử cáo Thuần-đà ngôn 。Thuần-đà 。
Lúc bấy giờ Văn-thù-sư-lợi Pháp vương tử nói với Thuần-đà rằng: Thuần-đà!

汝今不應發如是言。
nhữ kim bất ứng phát như thị ngôn 。
Nay ông chớ có thốt lên những lời

欲使 如來常住 於世不 般涅槃 。如彼飢人無所變吐。
dục sử Như-Lai thường trụ ư thế bất bát Niết-bàn 。như bỉ cơ nhân vô sở biến thổ 。
muốn Như Lai thường trụ ở đời đừng vào Niết-bàn , giống như người đói khát không có gì để bỏ ra.

汝今當觀諸行性相。如是觀行具 空三昧 。欲求 正法 應如是學。
nhữ kim đương quán chư hành tánh tướng。như thị quán hành cụ không tam muội 。dục cầu chánh Pháp ứng như thị học。
Ông nay phải quán sát các hành, tánh tướng, quán các hành như vậy đầy đủ Không Tam muội, muốn cầu chánh pháp phải học như vậy.

純陀問言。 文殊師利 。夫 如來 者。
Thuần-đà vấn ngôn。 Văn-thù-sư-lợi 。phu Như-Lai giả。
Thuần-đà hỏi rằng: Văn-thù-sư-lợi ! Rằng Như Lai ấy

上人 中最尊最勝。如是 如來 豈是行耶。
Thiên thượng nhân trung tối tôn tối thắng。như thị Như-Lai khởi thị hành da。
Là bậc Tối tôn, Tối thắng trong Trời người, Như Lai như vậy há là các hành ư?

若是行者為生滅法。譬如水泡速起速滅。
nhược thị hành giả vi sanh diệt Pháp。thí như thủy phao tốc khởi tốc diệt。
Nếu đó là hành thì đó là pháp sanh diệt, giống như bọt nước có rồi lại mất,

往來流轉猶如車輪。一切諸行亦復如是。我聞諸天壽命極長。
vãng lai lưu chuyển do như xa luân。nhất thiết chư hành diệc phục như thị。ngã văn chư Thiên thọ mạng cực trường。
đi lại lưu chuyển giống như bánh xe. Tất cả các hành cũng lại như vậy. Tôi nghe chư Thiên thọ mạng rất dài lâu,

云何 世尊天中天 。壽命更促不滿百年。
vân hà Thế tôn thị Thiên trung Thiên。thọ mạng canh xúc bất mãn bách niên。
vì sao Thế Tôn là bậc Thiên Trung Thiên , thọ mạng lại mau chóng mà không đủ trăm năm?

如聚落主勢得自在。以自在力能制他人。
như tụ lạc chủ thế đắc tự-tại。dĩ tự-tại lực năng chế tha nhân。
Như người chủ trong xóm làng có thế lực nên được tự tại, do lực tự tại nên chế ngự được người khác.

是人福盡其後貧賤。人所輕蔑為他策使。
thị nhân phúc tận kỳ hậu bần tiện。nhân sở khinh miệt vi tha sách sử。
Người ấy sau khi hết phước thì nghèo hèn bần tiện, bị người khác khinh khi và sai sử.

所以者何。失勢力故。 世尊 亦爾同於諸行。
sở dĩ giả hà。thất thế lực cố。 Thế tôn diệc nhĩ đồng ư chư hành。
Vì sao như vậy? Vì người ấy hết thế lực. Thế Tôn cũng đồng với các hành,

同諸行者則不得稱為 天中天 。何以故。
đồng chư hành giả tắc bất đắc xưng vi Thiên trung Thiên。hà dĩ cố。
đồng với các hành nên chẳng được xưng là bậc Thiên Trung Thiên . Vì sao vậy?

諸行即是生死法故。是故文殊。勿觀 如來 同於諸行。
chư hành tức thị sanh tử Pháp cố。thị cố Văn-thù。vật quán Như-Lai đồng ư chư hành。
Vì các hành tức là pháp sanh tử. Vì vậy Văn-thù, chớ có quán Như Lai đồng với các hành.

復次文殊。為知而說不知而說。
phục thứ Văn-thù。vi tri nhi thuyết bất tri nhi thuyết。
Lại nữa Văn-thù! Vì biết mà nói hay không biết mà nói

而言 如來 同於諸行。設使如來同諸行者。
nhi ngôn Như-Lai đồng ư chư hành。thiết sử Như-Lai đồng chư hành giả。
rằng Như Lai đồng với các hành. Giả sử như Như Lai đồng với các hành ấy

則不得言於三界中為 天中天 自在 法王
tắc bất đắc ngôn ư tam giới trung vi Thiên trung Thiên tự-tại Pháp Vương 。
thời không được nói rằng bậc Thiên Trung Thiên là vua Pháp Tự Tại ở trong ba cõi.

譬如人王有 大力 士。其力當千。更無有能降伏之者。
thí như nhân Vương hữu Đại lực sĩ 。kỳ lực đương thiên 。canh vô hữu năng hàng phục chi giả 。
Giống như ông vua có một lực sĩ to lớn, lực ấy chấp một ngàn người, lại cũng không có thể hàng phục được người ấy,

故稱此人一人當千。如是力士王所愛念。
cố xưng thử nhân nhất nhân đương thiên 。như thị lực sĩ Vương sở ái niệm 。
nên gọi người này là một người chịu ngàn người. Như vậy người lực sĩ đó được vua yêu mến

偏賜爵祿封賞自然。所以得稱當千人者。
Thiên tứ tước lộc phong thưởng tự nhiên。sở dĩ đắc xưng đương thiên nhân giả。
tự nhiên được ban bỗng lộc, quan chức do vậy mà được gọi là người chịu ngàn người.

是人未必力敵於千。但以種種伎藝所能能勝千故。
thị nhân vị tất lực địch ư thiên。đãn dĩ chủng chủng kỹ nghệ sở năng năng thắng thiên cố。
Sức của người ấy chưa hẳn địch được ngàn người, nhưng chỉ vì có khả năng sử dụng các kỹ xảo nên có thể thắng ngàn người,

故稱當千。 如來 亦爾。降 煩惱魔 陰魔天魔死魔。
cố xưng đương thiên 。 Như Lai diệc nhĩ。hàng phiền não ma uẩn Ma Thiên ma tử ma。
nên gọi đáng ngàn người. Như Lai cũng như vậy, hàng phục các ma phiền não , ma năm ấm, Thiên ma, tử ma.

是故 如來三界尊 。如彼力士一人當千。
thị cố Như-Lai danh tam giới tôn 。như bỉ lực sĩ nhất nhân đương thiên。
Vì vậy Như Lai gọi là bậc tôn kính trong ba cõi, như người lực sĩ địch một ngàn người.

以是 因緣 成就具足種種無量真實 功德
dĩ thị nhân duyên thành tựu cụ túc chủng chủng vô lượng chân thật công đức
Do nhân duyên như vậy nên thành tựu vô lượng các loại công đức chân thật,

故稱 如來正遍知文殊師利
cố xưng Như-Lai ứng Chánh-biến-TriVăn-thù-sư-lợi
nên xưng Như Lai Ứng Chánh Biến Tri . Văn-thù-sư-lợi !

汝今不應憶想分別以 如來 法同於諸行。譬如巨富長者生子。
nhữ kim bất ứng ức tưởng phân biệt dĩ Như-Lai pháp đồng ư chư hành。thí như cự phú Trưởng giả sanh tử。
Ông nay chớ có nhớ nghĩ phân biệt rằng Như Lai đồng với các hành. Thí như người trưởng giả giàu có lớn sinh con.

相師占之有短壽相。
tướng sư chiêm chi hữu đoản thọ tướng。
Thầy tướng xem tướng đứa con có thọ mạng ngắn ngủi.

父母聞已知其不任紹繼家嗣。不復愛重視如芻草。
phụ mẫu văn dĩ tri kỳ bất nhâm thiệu kế gia tự。bất phục ái trọng thị như sô thảo。
Cha mẹ nghe rồi biết đứa con không thể gánh vác việc nối dõi tông đường, lại không thương yêu kính trọng như nhìn cỏ cây.

夫短壽者不為 沙門 婆羅門 等男女大小之所敬念。
phu đoản thọ giả bất vi Sa Môn Bà-la-môn đẳng nam nữ đại tiểu chi sở kính niệm。
Rằng người thọ mạng ngắn ngủi ấy không làm cho các Sa môn, Bà-la-môn , nam nữ lớn nhỏ kính mến.

若使 如來 同諸行者。
nhược sử Như-Lai đồng chư hành giả。
Nếu khiến Như Lai đồng với các hành ấy

亦復不為一切世間人 天眾 生之所奉敬。
diệc phục bất vi nhất thiết thế gian nhân Thiên chúng sanh chi sở phụng kính。
cũng lại không làm chỗ phụng kính của hết thảy chúng sanh Trời người trong thế gian.

如來所說不變不異真實之法亦無受者。是故文殊。
Như-Lai sở thuyết bất biến bất dị chân thật chi Pháp diệc thị cố giả。thị cố Văn-thù。
Chỗ Như Lai nói là Pháp chẳng thay đổi, chẳng khác, chân thật, cũng chẳng có người thọ. Vì vậy Văn-thù!

不應說言 如來 同於一切諸行。
bất ứng thuyết ngôn Như Lai đồng ư nhất thiết chư hành。
Chớ nên nói rằng Như Lai đồng với hết thảy các hành.

復次文殊。譬如貧女無有居家救護之者。
phục thứ Văn-thù。thí như bần nữ vô hữu cư gia cứu hộ chi giả。
Lại nữa Văn-thù! Thí như có người con gái nghèo hèn không có nhà ở, không người cứu giúp,

加復病苦飢渴所逼。
gia phục bệnh khổ cơ khát sở bức。
lại thêm đói khát bệnh tật bức bách,

遊行乞丐止他客舍寄生一子。是客舍主驅逐令去。
du hành khất cái chỉ tha khách xá kí sanh nhất tử。thị khách xá chủ khu trục lệnh khứ。
dạo đi xin ăn rồi dừng lại ở một nhà khách của người ta và sinh một đứa con. Người chủ nhà khách xua đuổi khiến đi.

其產未久携抱是兒欲至他國。
kỳ sản vị cửu huề bão thị nhi dục chí tha quốc。
Người con gái ấy sinh con chưa bao lâu nhưng phải bồng đứa trẻ muốn đi đến một nước khác.

於其中路遇惡風雨寒苦並至。多為蚊虻蜂螫毒蟲之所唼食。
ư kỳ trung lộ ngộ ác phong vũ hàn khổ tịnh chí。đa vi văn manh phong thích độc trùng chi sở táp thực。
Trong nước ấy, trên đường đi gặp phải gió độc, mưa lạnh, bao điều gian khổ lại thêm muỗi mòng, ong độc, sâu kiến cắn ăn.

經由恒河抱兒而度。其水漂疾而不放捨。
Kinh do hằng hà bão nhi nhi độ。kỳ thủy phiêu tật nhi bất phóng xả。
Người con gái ấy vẫn ôm con mà vượt qua sông Hằng, nước sông lên nhanh mà vẫn không thả con ra.

於是母子遂共俱沒。如是女人慈念 功德
ư thị mẫu tử toại cộng câu một。như thị nữ nhân từ niệm công đức
Cuối cùng hai mẹ con đều bị chìm đắm. Như vậy người con gái ấy có công đức về lòng từ,

命終之後生於 梵天文殊師利 若有 善男子 欲護 正法
mạng chung chi hậu sanh ư Phạm ThiênVăn-thù-sư-lợi nhược hữu thiện nam tử dục hộ chánh Pháp 。
sau khi thân hoại mạng chung sẽ sanh ở Phạm Thiên . Văn-thù-sư-lợi ! Nếu có thiện nam tử muốn hộ trì chánh pháp

勿說 如來 同於諸行不同諸行。
vật thuyết Như-Lai đồng ư chư hành bất đồng chư hành 。
chớ có nói Như Lai đồng với các hành,hay không đồng chư hành

唯當自責我今愚癡未有慧眼。 如來 正法 不可思議
duy đương tự trách ngã kim ngu si vị hữu tuệ nhãn。 Như Lai chánh Pháp bất khả tư nghị
chỉ nên tự trách ta nay ngu si chưa có tuệ nhãn, chánh pháp của Như Lai không thể nghĩ bàn.

是故不應宣說 如來 定是有為定是無為。
thị cố bất ứng tuyên thuyết Như Lai định thị hữu vi định thị vô vi
Vì vậy chớ nên nói định như Lai là định Hữu vi và định Vô vi.

正見 者。應說 如來 定是無為。何以故。
nhược chánh kiến giả。ứng thuyết Như Lai định thị vô vi 。hà dĩ cố。
Nếu người chánh kiến nên nói định Như Lai là Vô vi. Vì sao vậy?

能為眾生生善法故生憐愍故。
năng vi chúng sanh sanh thiện Pháp cố sanh lân mẫn cố 。
Vì có thể vì chúng sanh mà sanh pháp lành nên sanh lòng thương xót vậy.

如彼貧女在於恒河為愛念子而捨身命。 善男子
như bỉ bần nữ tại ư hằng hà vi ái niệm tử nhi xả thân mạng。thiện nam tử。
Như người con gái nghèo kia ở trong sông Hằng vì thương yêu con mà không xả bỏ thân mạng. Thiện nam tử !

護法 菩薩 亦應如是。寧捨身命不說 如來 同於有為。
hộ Pháp Bồ-tát diệc ứng như thị。ninh xả thân mạng bất thuyết Như-Lai đồng ư hữu vi。
Bồ-tát hộ pháp cũng nên như vậy, thà xả bỏ thân mạng chớ không nên nói Như Lai đồng với Hữu vi,

當言 如來 同於無為。
đương ngôn Như-Lai đồng ư vô vi
nên nói Như Lai đồng với Vô vi.

以說 如來 同無為故得阿耨多羅三藐三 菩提 。如彼女人得生 梵天 。何以故。
dĩ thuyết Như-Lai đồng vô vi cố đắc A-nậu-đa-la-tam-miệu-tam Bồ đề。như bỉ nữ nhân đắc sanh Phạm Thiên 。hà dĩ cố。
Do nói Như Lai đồng với Vô vi nên đắc Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác , giống như người con gái kia được sanh ở Phạm Thiên . Vì sao vậy?

以護法故。云何護法。
dĩ hộ Pháp cố。vân hà hộ Pháp。
Do hộ pháp vậy. Sao gọi là hộ pháp?

所謂說言 如來 同於無為。 善男子 。如是之人雖不求解脫解脫自至。
sở vị thuyết ngôn Như-Lai đồng ư vô vi 。thiện nam tử。như thị chi nhân tuy bất cầu giải thoát giải thoát tự chí。
Nghĩa là nói Như Lai đồng với Vô vi. Thiện nam tử ! Như người ấy tuy không cầu giải thoát hay tự đến giải thoát,

如彼貧女不求 梵天 梵天自至。 文殊師利
như bỉ bần nữ bất cầu Phạm Thiên Phạm Thiên tự chí。 Văn-thù-sư-lợi
như người con gái nghèo kia không cầu Phạm Thiên mà Phạm Thiên tự đến. Văn-thù-sư-lợi !

如人遠行中路疲極寄止他舍。
như nhân viễn hành trung lộ bì cực kí chỉ tha xá。
Như người đi xa, trên đường đi hết sức mệt mỏi nên dừng chân tại nhà trọ.

臥寐之中其室忽然大火卒起。即時驚寤。尋自思惟。
ngọa mị chi trung kỳ thất hốt nhiên Đại hỏa tốt khởi。tức thời kinh ngụ。tầm tự tư duy。
Trong giấc ngủ say, nhà ấy bỗng nhiên lửa lớn bốc cháy, tức thì hoảng hốt thức dậy, tự suy nghĩ rằng:

我於今者定死不疑。具慚愧故以衣纏身。
ngã ư kim giả định tử bất nghi。cụ tàm quý cố dĩ y triền thân。
Ta nay định chết, không còn nghi ngờ gì nữa, rồi thấy hỗ thẹn lấy áo mặc vào

即便命終生 忉利天
tức tiện mạng chung sanh Đao Lợi Thiên
tức thì mạng chung sanh ở Cõi Trời Đao Lợi ,

從是已後滿八十返作大 梵王 。滿百千世生於人中為轉 輪王
tòng thị dĩ hậu mãn bát thập phản tác Đại Phạm Vương 。mãn bách thiên thế sanh ư nhân trung vi chuyển luân Vương
ở đó mãn rồi, sau đó tám mươi lần sanh lại làm Vua Trời Đại Phạm, đủ một trăm ngàn đời sanh vào trong loài người làm vua Chuyển Luân.

是人不復生三 惡趣 。展轉常生安樂之處。以是緣故。
thị nhân bất phục sanh tam ác thú 。triển chuyển thường sanh an lạc chi xử 。dĩ thị duyên cố。
Người đó không còn sanh trở lại trong ba đường ác, lần lượt sanh vào các nơi an vui, đều do nhân duyên như vậy.

文殊師利。若 善男子
Văn-thù-sư-lợi。nhược thiện nam tử。
Văn-thù-sư-lợi! Nếu thiện năm tử

有慚愧者不應觀佛同於諸行 文殊師利
hữu tàm quý giả bất ứng quán Phật đồng ư chư hành Văn-thù-sư-lợi
là người có hỗ thẹn không nên quán Như Lai đồng với các hành. Văn-thù-sư-lợi !

外道邪見可說 如來 同於有為。
ngoại đạo tà kiến khả thuyết Như-Lai đồng ư hữu vi 。
Ngoại đạo tà kiến có thể nói Như Lai đồng với Hữu vi.

持戒 比丘 不應如是於 如來 所生有為想。若言如來是有為者。即是妄語。
trì giới Tỷ kheo bất ứng như thị ư Như-Lai sở sanh hữu vi tưởng。nhược ngôn Như-Lai thị hữu vi giả。tức thị vọng ngữ。
Tỳ-kheo trì giới không nên ở chỗ Như Lai mà lại có tư tưởng như vậy. Nếu nói Như Lai là Hữu vi tức là nói dối.

當知是人死入 地獄 。如人自處於己舍宅。 文殊師利
đương tri thị nhân tử nhập Địa-ngục 。như nhân tự xử ư kỷ xá trạch。 Văn-thù-sư-lợi
Phải biết người ấy chết sanh vào Địa ngục như người kia tự mình vào ở trong nhà trọ. Văn-thù-sư-lợi !

如來真實是無為法。不應復言是有為也。
Như-Lai chân thật thị vô vi Pháp 。bất ứng phục ngôn thị hữu vi dã。
Như Lai chân thật là pháp Vô vi, không nên nói là Hữu vi.

汝從今日於生死中應捨無智求於正智當知
nhữ tòng kim nhật ư sanh tử trung ứng xả vô trí cầu ư chánh trí đương tri
Ông từ hôm nay ở trong sanh tử nên xả Vô trí mà cầu ở Chánh trí, nên biết

如來即是無為。若能如是觀如來者。
Như-Lai tức thị vô vi 。nhược năng như thị quán Như-Lai giả。
Như Lai tức là Vô vi, nếu hay quán Như Lai

具足當得三十二相。
cụ túc đương đắc tam thập nhị tướng。
đầy đủ Như Lai như vậy sẽ được ba mươi hai tướng,

速疾成就阿耨多羅三藐三 菩提 。爾時 文殊師利 法王子純陀 言。
tốc tật thành tựu A-nậu-đa-la-tam-miệu-tam Bồ-đề 。nhĩ thời Văn-thù-sư-lợi Pháp-Vương-Tử tán Thuần-đà ngôn。
mau chóng thành tựu Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Đẳng Chánh Giác . Lúc bấy giờ Văn-thù-sư-lợi Pháp Vương Tử khen Thuần-đà rằng:

善哉善哉。 善男子
Thiện tai Thiện tai。thiện nam tử。
Hay thay, Hay thay! Thiện nam tử !

汝今已作長壽 因緣 能知 如來 是常住法不變異法無為之法。
Nhữ kim dĩ tác trường thọ nhân duyên năng tri Như-Lai thị thường trụ Pháp bất biến dị Pháp vô vi chi Pháp。
Ông nay đã làm được nhân duyên sống lâu lại có thể biết Như Lai là pháp thường trú, là pháp không thay đổi, không khác, là pháp Vô vi.

汝今如是善覆 如來 有為之相。
nhữ kim như thị thiện phúc Như-Lai hữu vi chi tướng。
Ông nay khéo được Hữu vi tướng của Như Lai che chở như vậy

如彼火人為慚愧故以衣覆身。以是善心生 忉利天
như bỉ hỏa nhân vi tàm quý cố dĩ y phúc thân。dĩ thị thiện tâm sanh Đao Lợi thiên。
như người bị lửa kia vì hỗ thẹn nên lấy áo che thân, do tâm lành ấy mà sanh lên cõi trời Đao Lợi ,

復為 梵王 轉輪聖王 。不至 惡趣 常受安樂。
phục vi Phạm Vương Chuyển luân Thánh Vương 。bất chí ác thú thường thọ an lạc。
lại làm Phạm vương, Chyển Luân Thánh Vương, không đi vào đường ác, thường thọ an lạc.

汝亦如是善覆 如來 有為相故。
nhữ diệc như thị thiện phúc Như-Lai hữu vi tướng cố。
Ông cũng khéo được Hữu vi tướng của Như Lai che chở như vậy nên

未來世 必定當得三十二相八十種好 十八不共法 無量壽 命。
ư vị lai thế tất định đương đắc tam thập nhị tướng bát thập chủng hảo thập bát bất cộng Pháp vô lượng thọ mạng。
ở trong đời vị lai chắc chắn sẽ được ba mươi hai tướng tốt, tám mươi vẻ đẹp, mười tám Bất Cộng Pháp, thọ mạng vô lượng,

不在生死常受安樂。不久得成應 正遍知純陀
bất tại sanh tử thường thọ an lạc。bất cửu đắc thành ứng Chánh-biến-Tri 。Thuần-đà。
không ở chỗ sanh tử, thường được an lạc, không bao lâu sẽ đắc thành Ứng Chánh Biến Tri . Thuần-đà!

如來次後自當廣說我之與汝俱亦當覆如來有為。
Như-Lai thứ hậu tự đương quảng thuyết ngã chi dữ nhữ câu diệc đương phúc Như-Lai hữu vi 。
Lần lượt Như Lai sẽ tự nói rộng ra rằng Ta và ngươi cũng đều sẽ được Như Lai Hữu vi che chở,

有為無為且共置之。汝可隨時速施飯食。
hữu vi vô vi thả cộng trí chi。nhữ khả tùy thời tốc thí phạn thực。
Hữu vi hay Vô vi chỉ là tạm đặt ra thôi. Ngươi có thể tùy thời nhanh chóng mà thí bữa ăn.

如是施者。諸施中最。
như thị thí giả。chư thí trung tối。
Thí như vậy, chỗ cao nhất trong cái thí ấy là

比丘 比丘尼 優婆塞 優婆夷
nhược Tỳ-kheo Tỳ-kheo ni Ưu bà tắc Ưu bà di
nếu có Tỳ-kheo, Tỳ-kheo ni, Ưu-bà-tắc , Ưu-bà-di

遠行疲極所須之物應當清淨隨時給與。如是速施即是具足 檀波羅蜜 根本種子。
viễn hành bì cực sở tu chi vật ứng đương thanh tịnh tùy thời cấp dữ。như thị tốc thí tức thị cụ túc đàn Ba-la-mật căn bản chủng tử。
hết sức mệt mỏi phải cần đến vật thí đó, thì phải thanh tịnh tùy thời mà cấp cho họ, thí nhanh như vậy liền đầy đủ căn bổn chủng tử Bố thí Ba-la-mật .

純陀。若有最後施佛及僧。
Thuần-đà。nhược hữu tối hậu thí Phật cập tăng。
Thuần-đà! Nếu có cúng thí cho Phật và Tăng lần sau cùng

若多若少若足不足宜速及時。 如來 正爾當 般涅槃純陀 答言。
nhược đa nhược thiểu nhược túc bất túc nghi tốc cập thời。 Như-Lai chánh nhĩ đương bát Niết-bàn 。Thuần-đà đáp ngôn。
hoặc nhiều hoặc ít, hoặc đủ hoặc không đủ cũng phải nhanh và đúng thời. Như Lai đúng lúc sẽ Niết-bàn . Thuần-đà đáp rằng:

文殊師利。汝今何故。
Văn-thù-sư-lợi。nhữ kim hà cố。
Văn-thù-sư-lợi, ông nay sao vậy?

貪為此食而言多少足與不足令我時施。 文殊師利
tham vi thử thực nhi ngôn đa thiểu túc dữ bất túc lệnh ngã thời thí。 Văn-thù-sư-lợi
Vì tham thức ăn này mà nói nhiều ít, đủ hay không đủ nên khiến ta cúng thí kịp thời. Văn-thù-sư-lợi !

如來昔日 苦行 六年尚自支持。況於今日須臾間耶。
Như-Lai tích nhật khổ hành lục niên thượng tự chi trì。huống ư kim nhật tu du gian da。
Như Lai xưa kia sáu năm tu khổ hạnh mà còn cố sức cầm cự được huống hôm nay chỉ trong chốc lát ư?

文殊師利。汝今實謂 如來 正覺 受斯食耶。
Văn-thù-sư-lợi。nhữ kim thật vị Như-Lai chánh giác thọ tư thực da。
Văn-thù-sư-lợi! Ông nay bảo thật tình Như lai có ăn ư?

然我定知 如來身 者。即是 法身 非為食身。
nhiên ngã định tri Như-Lai thân giả。tức thị Pháp thân phi vi thực thân 。
nhưng tôi biết chắc chắn thân Như Lai ấy tức là Pháp thân chẳng phải là thân ăn uống.

爾時佛告 文殊師利 。如是如是。如 純陀 言。善哉純陀。
nhĩ thời Phật cáo Văn-thù-sư-lợi 。như thị như thị。như Thuần-đà ngôn。Thiện tai Thuần-đà。
Lúc bấy giờ Phật dạy Văn-thù-sư-lợi : Đúng vậy, đúng vậy, như Thuần-đà nói! Hay thay Thuần-đà!

汝已成就微妙 大智 。善入甚深 大乘經 典。
nhữ dĩ thành tựu vi diệu Đại trí。thiện nhập thậm thâm Đại thừa Kinh điển。
Ngươi đã thành tựu vi diệu đại trí , khéo vào chỗ sâu xa của Kinh điển Đại thừa .

文殊師利語 純陀 言。汝謂 如來 是無為者。
Văn-thù-sư-lợi ngữ Thuần-đà ngôn。nhữ vị Như-Lai thị vô vi giả 。
Văn-thù-sư-lợi nói với Thuần-đà rằng: Ngươi bảo Như Lai chính là Vô vi?

如來之身即是長壽。若作是知佛所悅可。 純陀 答言。
Như-Lai chi thân tức thị trường thọ。nhược tác thị tri Phật sở duyệt khả。Thuần-đà đáp ngôn。
Thân Như Lai tức là trường thọ, hoặc có thể biết cách làm cho Như Lai đẹp lòng. Thuần-đà đáp rằng:

如來非獨悅可於我。亦復悅可一切眾生。
Như-Lai phi độc duyệt khả ư ngã。diệc phục duyệt khả nhất thiết chúng sanh。
Như Lai chẳng có thể đẹp lòng chỉ riêng tôi, cũng có thể đẹp lòng với hết thảy chúng sanh.

文殊師利言。
Văn-thù-sư-lợi ngôn。
Văn-thù-sư-lợi nói:

如來於汝及以於我一切眾生皆悉悅可。 純陀 答言。汝不應言如來悅可。
Như-Lai ư nhữ cập dĩ ư ngã nhất thiết chúng sanh giai tất duyệt khả 。Thuần-đà đáp ngôn。nhữ bất ứng ngôn Như-Lai duyệt khả。
Như Lai đều có thể đẹp lòng đối với ông, với Ta và với hết thảy chúng sanh. Thuần-đà đáp rằng: Ông chớ nên nói Như Lai có thể đẹp lòng,

夫悅可者則是倒想。若有倒想則是生死。
phù duyệt khả giả tắc thị đảo tưởng。nhược hữu đảo tưởng tắc thị sanh tử。
rằng đẹp lòng ấy tức là tưởng điên đảo , nếu có tưởng điên đảo tức là sanh tử,

有生死者即有為法。是故文殊。勿謂 如來 是有為也。
hữu sanh tử giả tức hữu vi Pháp。thị cố Văn-thù。vật vị Như-Lai thị hữu vi dã。
có sanh tử tức là pháp Hữu vi. Vì vậy Văn-thù! Chớ có bảo Như Lai là Hữu vi.

若言 如來 是有為者。我與仁者俱行顛倒。
nhược ngôn Như-Lai thị hữu vi giả 。ngã dữ nhân giả câu hành điên đảo 。
Nếu nói Như Lai là Hữu vi thì tôi và Nhân giả đều làm điên đảo.

文殊師利。 如來 無有愛念之想。夫愛念者。
Văn-thù-sư-lợi。 Như-Lai vô hữu ái niệm chi tưởng。phu ái niệm giả。
Văn-thù-sư-lợi! Như Lai không có tưởng nhớ nghĩ yêu thương, rằng yêu thương ấy

如彼母牛愛念其子。雖復飢渴行求水草。
như bỉ mẫu ngưu ái niệm kỳ tử。tuy phục cơ khát hành cầu thủy thảo。
như trâu mẹ nhớ nghĩ yêu thương con mình, tuy đói khát đi tìm nước cỏ

若足不足忽然還歸。諸 佛世尊 無有是念。
nhược túc bất túc hốt nhiên hoàn quy。chư Phật Thế tôn vô hữu thị niệm。
hoặc đủ không đủ bỗng nhiên cũng phải quay về. Chư Phật Thế Tôn không có niệm đó,

等視一切如 羅睺羅 。如是念者。
đẳng thị nhất thiết như La-hầu-la 。như thị niệm giả。
bình đẳng xem tất cả như La-hầu-la . Niệm như vậy

即是諸佛智慧境界。 文殊師利 。譬如國王調御駕駟。
tức thị chư Phật trí tuệ cảnh giới。 Văn-thù-sư-lợi 。thí như Quốc Vương điều ngự giá tứ。
tức là cảnh giới trí tuệ của chư Phật. Văn-thù-sư-lợi ! Thí như đức vua điều khiển xe có đóng ngựa,

欲令驢車而及之者。無有是處。我與仁者亦復如是。
dục lệnh lư xa nhi cập chi giả。vô hữu thị xử。ngã dữ nhân giả diệc phục như thị。
muốn khiến cho xe lừa đuổi kịp, điều ấy không có được. Tôi và nhân giả cũng lại như vậy,

欲盡 如來 微密深奧亦無是處。 文殊師利
dục tận Như-Lai vi mật thâm áo diệc vô thị xử。 Văn-thù-sư-lợi
muốn biết hết chỗ vi diệu thâm áo của Như Lai , điều ấy cũng không có được. Văn-thù-sư-lợi !

如金翅鳥飛昇虛 空無由旬
như kim sí điểu phi thăng hư không vô lượng do-tuần
Như chim Kim sí bay lên trên hư không, không lượng bao nhiêu do tuần,

下觀大海悉見水性魚鼈黿鼉龜龍之屬。
hạ quán Đại hải tất kiến thủ y tánh ngư miết ngoan đà quy long chi chúc。
nhìn xuống thấy hết các loài trong nước như cá, ba ba, giải, rùa, rồng

及見己影如於明鏡見諸色像。凡夫少智不能籌量如是所見。
cập kiến kỷ ảnh như ư minh kính kiến chư sắc tượng。phàm phu thiểu trí bất năng trù lượng như thị sở kiến。
và thấy hình ảnh sắc tướng của mình trong đó như soi trong gương sáng. Phàm phu ít trí không thể trù lượng được chỗ thấy như vậy.

我與仁者亦復如是。不能籌量 如來 智慧。
ngã dữ nhân giả diệc phục như thị。bất năng trù lượng Như-Lai trí tuệ。
Tôi và Nhân giả cũng lại như vậy, không thể trù lượng được trí tuệ của Như Lai .

文殊師利語 純陀 言。如是如是。如汝所說。
Văn-thù-sư-lợi ngữ Thuần-đà ngôn。như thị như thị。như nhữ sở thuyết。
Văn-thù-sư-lợi nói với Thuần-đà rằng: Đúng vậy, đúng vậy! Chỗ ông nói

我於此事非為不達。直欲試汝諸 菩薩 事。
ngã ư thử sự phi vi bất đạt。trực dục thí nhữ chư Bồ-tát sự。
ta đây đối với việc này chẳng phải là chưa thông đạt, chỉ muốn thử ông về các việc của Bồ-tát vậy thôi.

爾時 世尊 。從其面門出種種光。
Nhĩ thời Thế tôn 。tòng kỳ diện môn xuất chủng chủng quang。
Lúc bấy giờ Thế Tôn từ trước mặt xuất ra các loại ánh sáng.

其光明曜照文殊身。 文殊師利 。遇斯光已即知是事。
kỳ quang-minh diệu chiếu Văn-thù thân。 Văn-thù-sư-lợi 。ngộ tư quang dĩ tức tri thị sự。
Ánh sáng ấy chiếu soi vào thân Văn-thù. Văn-thù-sư-lợi gặp được ánh sáng ấy rồi liền biết sự việc

尋告 純陀如來 今者現是瑞相。
tầm cáo Thuần-đà 。 Như-Lai kim giả hiện thị thụy tướng 。
tìm Thuần-đà mà bảo rằng: Như Lai nay hiện tướng đoan nghiêm ấy

不久必當入於 涅槃 。汝先所設最後供養。宜時奉獻佛及大眾。
bất cửu tất đương nhập ư Niết-bàn 。nhữ tiên sở thiết tối hậu cúng dường 。nghi thời phụng hiến Phật cập Đại chúng 。
chắc chắn chẳng bao lâu nữa sẽ vào Niết-bàn . Trước hết ông phải bày biện đồ cúng dường sau cuối, phải kịp thời hiến Phật và Tăng chúng.

純陀當知。 如來 放是種種光明非無 因緣
Thuần-đà đương tri。 Như-Lai phóng thị chủng chủng quang-minh phi vô nhân duyên
Thuần-đà nên biết, Như Lai phóng các loại ánh sáng ấy chẳng phải không có nhân duyên .

純陀聞已情塞默然。佛告純陀。
Thuần-đà văn dĩ tình tắc mặc nhiên。Phật cáo Thuần-đà。
Thuần-đà nghe xong ngẹn ngào im lặng. Phật dạy Thuần-đà:

汝所奉施佛及大眾今正是時。 如來 正爾當 般涅槃
Nhữ sở phụng thí Phật cập Đại chúng kim chánh thị thời。 Như-Lai chánh nhĩ đương bát Niết-bàn
Ngươi phụng cúng Phật và đại chúng nay đã đúng thời. Như Lai đã đến lúc vào Niết-bàn .

第二第三亦復如是。爾時 純陀佛語 已。
đệ nhị đệ tam diệc phục như thị。nhĩ thời Thuần-đà văn Phật ngữ dĩ。
Lần thứ hai, lần thứ ba cũng lại như vậy. Lúc bấy giờ Thuần-đà nghe Phật dạy xong

舉聲啼哭悲咽而言。苦哉苦哉。世間空虛。復白大眾。
cử thanh đề khốc bi yết nhi ngôn。khổ tai khổ tai。thế gian không hư 。phục bạch Đại chúng。
ngẹn ngào khóc lóc lên tiếng bi thương mà rằng: Khổ thay, khổ thay! Thế gian trống rỗng! Lại bạch đại chúng:

我等今者一切當共 五體投地
Ngã đẳng kim giả nhất thiết đương cộng ngũ thể đầu địa
Chúng ta hôm nay hết thảy đều phải năm vóc gieo sát đất

同聲勸佛莫 般涅槃 。爾時 世尊 復告 純陀
đồng thanh khuyến Phật mạc bát Niết-bàn 。Nhĩ thời Thế tôn phục cáo Thuần-đà。
đồng thanh khuyên Phật chớ có Niết-bàn . Lúc bấy giờ Thế Tôn lại nói với Thuần-đà rằng:

莫大啼哭令心顦悴。當觀是身。猶如芭蕉熱時之炎。
mạc đại đề khốc lệnh tâm tiều tụy。đương quán thị thân。do như ba tiêu nhiệt thời chi viêm。
chớ có kêu khóc lớn khiến cho tâm thêm tiều tụy, phải nên quán sát thân này giống như cây chuối, gặp thời nóng bức sẽ bốc cháy,

水泡幻化 乾闥婆城 坏器電光。
thủy phao huyễn hóa Càn thát bà thành khôi khí điện quang。
như bọt nước, như huyễn hóa, như thành Càn-thát-bà , như đồ gốm, như ánh chớp,

亦如畫水臨死之囚熟果段肉。如織經盡如碓上下。
diệc như họa thủy lâm tử chi tù thục quả đoạn nhục。như chức kinh tận như đối thượng hạ 。
cũng như tranh nước, như người tù sắp chết, như quả chín, như thịt cắt, như dệt vải đến hết, như trên dưới cái cối giã gạo,

當觀諸行猶雜毒食。有為之法多諸過患。
đương quán chư hành do tạp độc thực。hữu vi chi Pháp đa chư quá hoạn。
phải quán các hành giống như các loại thức ăn độc, pháp Hữu vi quá nhiều các tội lỗi, lo sợ.

於是 純陀 復白佛言。 如來 不欲久住於世。
ư thị Thuần-đà phục bạch Phật ngôn 。 Như-Lai bất dục cửu trụ ư thế 。
Thuần-đà lại bạch Phật rằng: Như Lai không muốn trụ lâu ở đời

我當云何而不啼泣。苦哉苦哉。世間空虛。唯願 世尊
ngã đương vân hà nhi bất đề khấp。khổ tai khổ tai。thế gian không hư。duy nguyện Thế tôn
con làm sao mà không khóc được. Khổ thay, khổ thay, thế gian trống rỗng! Xin nguyện Thế Tôn

憐愍我等及諸眾生。久住於世勿 般涅槃
lân mẫn ngã đẳng cập chư chúng sanh。cửu trụ ư thế vật bát Niết-bàn
thương xót chúng con và các chúng sanh mà trụ lâu ở đời chớ có vào Niết-bàn .

佛告 純陀 。汝今不應發如是言。憐愍我故久住於世。
Phật cáo Thuần-đà。nhữ kim bất ứng phát như thị ngôn。lân mẫn ngã cố cửu trụ ư thế。
Phật dạy Thuần-đà: Ngươi nay không nên thốt lên những lời như vậy: thương con nên sống lâu ở đời.

我以憐愍汝及一切。是故今欲入於 涅槃
ngã dĩ lân mẫn nhữ cập nhất thiết。thị cố kim dục nhập ư Niết-bàn
Ta vì thương xót ngươi và hết thảy mà muốn vào Niết-bàn .

何以故。諸 佛法 爾。有為亦然。是故諸佛。
Hà dĩ cố。chư Phật Pháp nhĩ。hữu vi diệc nhiên。thị cố chư Phật。
Vì sao vậy? Chư Phật pháp ấy, Hữu vi cũng vậy, cho nên chư Phật

而說偈言。
nhi thuyết kệ ngôn。
mà nói kệ rằng

有為之法  
Hữu vi chi Pháp
Tất cả pháp Hữu vi

其性 無常   
Kỳ tánh vô thường
Tánh nó vốn Vô thường 

生已不住
Sanh dĩ bất trụ
Sanh ra thường không trụ

寂滅為樂
Tịch diệt vi lạc
Tịch diệt là an lạc.

純陀。汝今當觀一切行雜諸法。
Thuần-đà。nhữ kim đương quán nhất thiết hành tạp chư Pháp。
Thuần-đà! Ngươi nay phải quán hết thảy các hành gồm những pháp hỗn hợp như

無我 無常 不住。此身多有無量過患猶如水泡。
vô ngã vô thường bất trụ。thử thân đa hữu vô lượng quá hoạn do như thủy phao。